Những thay đổi trong sự điều tiết kinh tế của nhà nước tư sản hiện đại

Đó là phương thức điều tiết của nhà nước linh hoạt, mềm dẻo với phạm vi rộng hơn.Đó là sự kết hợp điều tiết tình thế với điều tiết dài hạn, các công cụ và phạm vi điều tiết cảu nhà nước cũng đa dạng và càng mở rộng hơn

Điều tiết bằng chương trình và kế hoạch. Thí dụ, chi ngân sách được thực hiện theo các chương trình kinh tế –xã hội trung hạn và dài hạn, như chưong trình phục hồi kinh tế, chương trình phát triển và ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, chương trình cải biến cơ cấu kinh tế, chương trình kết cấu hạ tầng.Mỗi chương trình dài hạn và trung hạn được cụ thể hóa thành các kế hoạch nhằm giải quyết nhiệm vụ kinh tế –xã hội nhất định trong một tài khóa. Mỗi chương trình cụ thể được phân chia thành nhiều dự án, những dự án này được nhà nước ký kết với các doanh nghiệp bằng một hợp và kèm theo hợp đồng là đơn đặt hàng cụ thể cho những loại hàng hóa và dịch vụ nhất định.

Điều tiết cơ cấu kinh tế bằng quan hệ thị trường thông qua hợp đồng, đồng thời hỗ trợ những nghành truyền thống cần được duy trì và của những nghành mũi nhọn với công nghệ cao.

Điều tiết tiến bộ khoa học và công nghệ bằng tăng chi ngân sách cho nghiên cứu và phát triển, tăng tài trợ cho nghiên cứu và ứng dụng của các công ty tư nhân, đễ xuất hướng yêu tiên nghiên cứu khoa học công nghệ hoặc mua công nghệ nước ngoài.

Điều tiết mô hinh phát triển sản xuất. Phát triển sản xuất là sự sống còn của các nước nói chung và các nước tư bản hiện đại nói riêng, quá trình đó đã diễn ra liên tục và luôn có sự thay đổi để phù hợp với sự phát triển của con người, những thành tựu của khoa học kỹ thuật mang lại. Trong quá trình thay đổi này các nước tư bản hiện đại đã :

Xây dựng một mô hình phát triển sản xuất tiết kiệm ở tầm vĩ mô. Cách mạng hóa sâu sắc cơ sở vạt chất kỹ thuật công nghệ của nèn sản xuất, đi vào hình thành một nền sản xuất của cả vật chất và phi vật chất mới. Về nguyên tắc với đặc trưng tiêu biểu của nó là tiết kiệm đến mức tôi đa các nguồn của cải, tài nguyên thiên nhiên môi trường đề cao chất lượngk hiệu quả và tôn trọng nhaan cách sáng tạo của con người, để giải quyết các cuộc khủng khoảng kinh tế, sự khan hiếm về tài nguyên và giá cả của chúng ta tăng lên, tiết kiệm lao động và giải quyết thất nghiệp, cải tạo chất lượng cuộc sống và chạy đau vũ trang.

Do sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường nhà nước tư bản hiện đại muốn giải quyết được những nhiệm vụ cấp bách của nền kinnh tế thì phải :
– Đẩy mạnh tự động hóa tren cơ sở kỹ thuật thông tin điện tử tất cả các lĩnh vưc sản xuất, trao đổi, phân phối lưu thông và đẩy mạnh tư nhân hóa kinnh tế.
– Chuyển nền kinh tế sang kiểu tái sản xuất, tiết kiệm các nguồn lực (nguyên liệu, nhiên liệu, năng lương, sử dụng các nguyên liệu thứ cấp, tạo ra các loại vật liệu và năng lượng mới, khai thác tiềm năng sáng tạo của con.
– Thực hiện các chương trình xh nhiều mặt nhằm tạo ra bầu không khí xã hội ổn định vì sự phát triển.
– Khuyến khích sự sáng tạo của con người, đâud tư phát triển sự sáng tạo của con người, đẩy mạnh cho đầu tư nghiên cứu sự phát triển khoa học kỹ thuật.

Thực tiễn đã cho thấy rằng những nghành sản xuất ra đời trên cơ sở những thành tựu của khoa học kỹ thuật đã tiết kiệm sức lao động, đẩy mạnh sử dụng lao động có trình độ cao.

Hàm lượng khoa học kỹ thuật đã là một mục tiêu phát triển của ngành nông nghiệp, máy móc hóa sản phẩm nông nghiệp, đẩy cao sự tiết kiệm nhân lực. Đông thời với sự phát triển của khoa học thì quá trình phát triển quản lý đã được dựa chủ yếu vào khả năng sáng tạo của con người.

Cách mạng hóa các yếu tố sản xuất và lao động. Với cuộc cách mạng của khoa học và công nghệ thì đối tượng lao động và công cụ lao động đã thay đổi một cách căn bản, nó đã nằm trong một hệ thống bốn khâu ( công cụ, động lực truyền dẫn và điều khiển ). Khâu điều khiển ra đời trên cơ sở ứng dụng kỹ thuật thông tin điện tử đã cách mạng hóa chức năng của con người trong quá trình chế tạo sản phẩm. Người công nhân đã trở thành người tổ chức và điều khiển sự vận hành máy móc theo trương trình định trước của nó. Trong những ngành nghề nguy hiểm, độc hại, kỹ thuật người máy đã được áp dụng rộng rãi và làm cả những chức năng của hệ thần kinh và bộ não. Con người trong guồng máy sản xuất mới phải được đào tạo bồi dưỡng, đổi mới và nâng cao không ngừng trình độ tri thức và nghề nghiệp và cả nhu cầu phát triển nhân cách sáng tạo của con người. Mặt khác sự phát triển của nhu cầu dịch vụ và hàng hóa vì sự ra đời của “ tư tưởng lao động” đã trở thành cài mốc mới đánh dấu con đường đi tới nền kinh tế trí tuệ.

Cách mạng hóa trong kết cấu của tái sản xuất dưới góc độ sản phẩm xã hội, ngành, khu vực vùng địa lý và tổ chức sản xuất. Do nhu cầu của xã hội ngày càng tăng, đặc biệt là việc thỏa mãn chất lượng đời sống cao đã đẩy sản phẩm xã hội và sự thay đổi cao, cơ cấu sản phẩm phát triển theo hướng lĩnh vực sản xuất phi vật chất, những ngành phục vụ khu vực công nghiệp và các dịch vụ tư vấn chuyên môn, thiết kế, thông tin, kế toán lập dự án… . chiếm địa vị số một về tốc độ tăng trưởng. Kết cấu tổ chức sản xuất đã được điều chỉnh theo hướng kết hợp các xí nghiệp nhỏ, vừa và lớn theo tỷ lệ phù hợp với qui mô và kết cấu của nhu cầu xã hội cũng như những đặc điểm kinh tế kỹ thuật công nghệ của các ngành kinh tế.

Phân bố địa lý nền sản xuất cũng thay đổi theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa ở các vùng lạc hậu trong mỗi nước tư bản phát triển. Không gian kinh tế đã mở rộng dần theo hướng mở rộng lục địa ra biển ( Nhật Bản), khai thác đại dương ( hầu hết các nước tư bản phát triển ), mở ra xây dựng nền sản xuất vũ trụ và khai thác vũ trụ ( Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu ).

Điều tiết thị trường sức lao động. Thị trường sức lao động là nơi diễn ra quá trình mua và bán sức lao động, một đặc điểm căn bản của nền kinh tế thị trường nhưng do có tính chât tư bản nên nó đã tiềm ẩn những bất bình đẳng kinh tế rõ rệt, nó diễn ra quyết liệt trong một nước tư bản và giữa các nước tư bản, nó đòi hỏi phải có những điều chỉnh của các nhà nước tư sản hiện đại. Chủ thể điều tiết là các công đoàn, các doanh nghiệp và nhà nước. Sự điều tiết này đã tác động cả phía cung và phía cầu sức lao động, nó liên qua đến lương, thời gian lao động, quy tắc thuê và thải nhân lực, những hình thức bù đắp tai biến trong lao động.

Giải điều tiết của sự điều tiết của thị trường lao động cũng có những căn bản thay đổi
Linh hoạt hóa việc sử dụng sức lao động. Số lượng người làm việc trong một doanh nghiệp không hoàn toàn cố định và có thể thay đổi nhanh chóng tùy theo nhu cầu chế tạo sản phẩm. Người công nhân phải có khả năng đảm nhận những chức năng khác nhau, đào tạo lại nhanh và có kinh nghiệm chuyên môn. Đội ngũ nhân sự chia làm hai nhóm. Nhóm 1 có trình độ hạt nhân đảm ssự vận hành có hiệu quả, doanhh nghiệp thêu thường xuyên theo những điều kiện chặt chẽ và gồm các chuyen gia quản lý, những nhà thiết kế, kỹ sư và kỹ thuật viên, những công nhân lành nghề và có trình độ cao. Nhóm hai, những người con lại được thêu theo thời hạn, thường xuyên thay đổi về nghề nghiệp caũng như số lượng, tiền trả cho nhóm này phụ thuộc vào cung cầu và điều kiện sống cần thiết của họ.

-Cá thể hóa các hợp đồng gí biểu được thực hiện dưới hình thức theo hợp đồng tại xí nghiệp, hợp đồng tạm thời, hợp đồng theo ngày hợp đồng mở.
– Chia nhỏ doanh nghiệp tùy theo tính chất kinnh tế kỹ thuật và phân bố rộng rãi về mặt lãnh thổ.
– Sử dụng lao động tại nhà ngày càng được áp dụng rộng rãi, nhất là với những công việc phải sử lý máy tính.
– Giảm bớt phúc lợi xã hội và tăng tính năng động cho người lao động.

Điều tiết hệ thống tín dụng và tư bản tài chính. Trong chủ nghĩa tư bản hiện đại hệ thống ngân hàng phát triển cao độ có vai trò vô cùng lớn trong đời sống kinh tế xã hội hiện đại đã ảnh hưởng tới sự điều tiết kinh tế của nhà nước. Đặc biệt là ngân hàng trung ương chiếm vị trí đặc biệt trong hệ thống này đã phát huy vai trò một công cụ điều tiết vĩ mô nhanh nhậy của nhà nước.

Thỏa mãn nhu cầu. Ngày nay ở tất cả các nước tư bản phát triển nhất dù còn có những người không có cuộc sống đảm bảo bình thường của các nước này, song phải thừa nhận rằng nhu cầu thiết yếu cổ điển (ăn mặc, ở, y tế, đi lại) đã được thỏa mãn vững chắc ngay cả trong những lúc có chấn động kinh tế. Nhu cầu cao hơn đã được đề ra và được áp dụng ngày càng phong phú, đa dạng hơn (nhu cầu nâng cao chất lượng nghỉ ngơi, giải trí và phát triển nhân cách). Đông thời một loạt nhu cầu thứ ba đã xuất hiện, đó là nhu cầu có tính cộng đồng xã hội, nhu cầu đảm bảo môi trường và chất lượng cuộc sống chung.

Hạn chế tính vô chính phủ. Do tính vô chính phủ trong quá trình sản xuất các tổ chức kinh tế và lĩnh vực khác nhau đã dẫn đến những cuộc khủng hoảng kinh tế, sự lạm phát gia tăng, sự thất nghiệp và o nhiễm môi trường. Các nước tư bản hiện đại đã sử dụng chính sách chu yếu là tiền tệ, tín dụng ngân sách vừa mềm dẻo và mang tính chấ chỉ dẫn để hạn chế tính vô chính phủ. Nhà nước tư sản đã chỉ ra các mục tiêu cần đạt, giải thích và thuyết phục các thành phần kinh tế thực hiên, nhà nứoc không ra lệnh thực hiện các mục tiêu mà trao ưu đãi ( ví dụ: tài chính, thuế) cho những thành phần kinh tế thực hiên được mục tiêu và trừng phạt những thành phần nào không đạt được mục tiêu.

Tăng cường phối hợp chính sách kkinh tế quôc tế. với xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế, các quan hệ kinh tế đã được đặt lên hàng đầu, nhà nước của các nước tư bản hiện đại đã lập ra các khối kinh tế khu vực : hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch, Quỹ tiền tệ quôc tế, ngân hàng thế giới, tổ chức WTO… nhà nước hiệp thương hai bên hoặc nhiều bên trong nhiều vấn đề, phối hợp kinh tế chính sách kinh tế giữa các nước, kip thời làm dịu mâu thuẫn kinh tế giữa các nước. Những quan hệ này bị ràng buộc bởi các quy đinh, các nguyên tắc của các tổ chức quản lý kinh tế ở mức độ nhất định, chịu sự can thiệp và điều tiết chung của các nước. Do hòa bình ổn định và phát triển đã trở thành xu thế chính của thời đại ngày nay, mối liên hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước và các khu vực trên thế giới không ngừng tăng lên. số lượng các tổ chức quôc tế không ngừng tăng lên, nó co ảnh hưởng sâu sắc đến quan hệ kinh tế quốc tế của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Các nước tư bản hiện đại đã phải điều chỉnh những quan hệ này để chiếm giữ vị trí khống chế thị truờng thế giới. Hiện nay do sự phát triển mạnh mẽ kinh tế của các khu vực Đông âu, Đông á, Bắc mỹ, tình hình kinh tế trên thế giới đã phát triển theo cu hướng cân băng và ổn định. Cùng với sự cạnh tranh và cách mạng của khoa học kĩ thuật đã đẩy các nước tư bản phát triển vào một cuộc chạy đua mới, mức độ phụ thuộc vào bên ngoài và phụ thuộc lẫn nhau ngày càng cao.

Hơn nữa vấn đề nổi cộm của toàn thế giớ hiện nay là “vấn đề về môi trừong” và “ không gian kinh tế hòa bình và ổn định” các nước tư bản hiện đại đã có khuynh hướng phối hợp chiến lược cùng nhau giải quyết những vấn để cuả môi trường và kinh tế. Các quy ước về môi trưòng đã làm cho cho sự phát triển về kinh tế của các nước phải chịu sự hạn chế nhất định. Như vậy cạnh tranh vầ hợp tác là khuynh hướng giữa các nước tư bản phát triển, khi mà sự phát triển của khoa học kỹ thuật –công nghệ được đặt nên hàng đầu thì việc trao đổi sản phẩm hàm lượng chế biến cvà khoa học cao là yêu tiên hàng đầu trong sự điều tiết tư sản, đầu tư trực tiếp đẩy mạnh như một công cụ lao động quốc tế, quan hệ tài chính tiền tệ quốc tế trở thành mộtn hình thái quan hệ kinh tế gắn chặt với các quan hệ nội như một tổng thể hợp tác và cạnh tranhh khoa học công nghệ. Những quan hệ song phương và đa phương và đa phương có chiều hướng phát triển sông song với các quan hệ toàn cầu.

Song song với những quan hệ kinh tế quốc tế thì nhưẽng quan hệ về chính trị quân sự cũng đang là một mục tiêu quan trọng của các nước đang phát triển, với tình hình chính trị kinh tế đang bất ổn định, sự xuất hiện của những tổ chứcc khủng bố, cùng với nó là sự tranh đua vũ trang thì những hoạt động quân sự đã trở thành quốc tế hoá quân sự. Cấc nước tư sản đã đảy cao hợp tác về quân sự, đẩy mạnh sự phát triển cảu các tổ chức công nghiệp quân sự, đodngf thời gắn chắt nó với hoạt động của các tổ chức độc quyền sản xuất dân dụng, đa dạng hoá các hoạt động sản xuất hướng vào khu vực sản xuất dân sư.

Một chủ thể khác của nền kinh tế cần phải có sự điều tiết của nhà nước đó là các tổ chức tư nhân. Nó phát triển mạnh, quy mô của chungs lớn hơn trước rất nhiều, hoạt động kinh doanh của chúng đã vượt qua giới hạn của nghành nghề quốc gia, phổ biến thành các công ty xuyên quốc gia. Các tổ chức xuyên quốc gia ngày càng phát triển và có ảnh hưởng chi phối các quan hệ kinh tế, chính trị quốc tế và những hoạt động kinh tế của các quốc gia. Theo số liệu chưa đầy đủ hiện nay có khoang 200 công ty kiểu này với 33 triệu lao đọng làm thêu, kiểm soát 40%sản lượng công nghiệp thế giới tư bản, 60% ngoại thương. Khi sự phát triển của các tổ chức tư nhân là sự phát triển cảu các tổ chức xuyên quốcc gia, nó luôn càn sự điều tiết của nhà nước thì quá trinh phát triển của lao động xã hội cũng là một vấn đè quan trọng cần có sự điều tiết của nhà nước tư sản –các nước tư sản nói riêng và toàn thế giới nói chung phải tổ chức phân lao động quốc tế, hình thnàh lực lượng sản xuất quốc tế và quan hệ sản xuất quốc tế. Theo xu hướng của khoa học kỹ thuật hiện đại thì các tư bản hiện đại đã ra sức chiếm lĩnh những vị trí then chốt, những khâu quyết định trong quá trinh sản xuất của cải vật chất (phi vật chất và vật chất ) đưa vào các lợi thế của nước mình.

Đa dạng hoá và đa phương hoá được áp dụng phổ biến để nâng cao trình đọ chuyên môn hoá và hợp tác hoá. Trong quan hệ với ccs nước kém phát triển, các nước tư bản chủ nghĩa đang chuyển từ chính sách tước đoạt cượp bóc, kiềm chế các nước này trong vùng lạc hậu sdang chính sách thức đẩy sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa phụ thuộc ở các nước này, tạo ra ở các này một thị trường rộng lớn, một hệ thống công nghiệp phụ thuộc một môi trường kinh doanh cho họ.

Như vậy là những thay đổi trong quá trình điều tiết nền kinh tế cảu các nước tư bản hiện đại đã hướgn vào sự điều tiết gắn liền với yêu cầu mới của quá trình quốc tế hoá kinh tế. Sự phát triển của các hình thức, biện pháp độc quyền nhà nước quốc tế tưng bước phù hợp với yêu cầu phát triển cảu tư bản độc quyền xuyên quốcc gia và các quan hệ kinh tế quốc tế mới. Việc điều tiết độc quyền nhà nước quốc tế sẽ tiến đến một bước phủ định cao hơn dựa trên những nguyên tắc cơ bản cảu tổ chức kinh tế tư bản tư nhân, thích hợp với điều kiện mới của thị trường do tiến bộ mới của khoa học –công nghệ và trình đọ quốc tế hoá sản xuất mang lại và sự tăng cưòng của cơ chế thị trường.