Những thuận lợi và khó khăn khi gia nhập WTO của Doanh nghiệp Việt Nam

 

1.          Những thuận lợi

Thứ nhất, sau 5 năm gia nhập WTO, số lượng doanh nghiệp nước ta tăng nhanh và các doanh nghiệp cũng trưởng thành lên nhiều cả về quy mô và vốn. Nếu như 5 năm trước đây, số lượng các doanh nghiệp có vốn trên 100 tỉ đồng rất ít, thì hiện nay, con số này là rất nhiều, thậm chí có không ít những doanh nghiệp đạt mức doanh thu hàng nghìn tỉ đồng.

Thứ hai,sản phẩm do các doanh nghiệp sản xuất ra nhiều về số lượng, đa dạng về chủng loại và mẫu mã. Chúng ta đã từng lo ngại rằng, việc mở cửa thị trường bán lẻ cho các tập đoàn phân phối đa quốc gia sẽ lấn chiếm thị phần của doanh nghiệp trong nước, hoặc, khi mở nhiều siêu thị thì hàng ngoại sẽ tràn vào lấn át hàng nội, nhưng qua thực tế hiện nay, tuy số lượng siêu thị tăng rất nhanh nhưng 85% hàng bán trong siêu thị là hàng Việt Nam. Mặc dù GDP ngày càng lớn, nhưng tỷ lệ đóng góp của bán buôn và bán lẻ vào GDP vẫn ngày càng tăng.

Thứ ba, mức độ trưởng thành của các doanh nghiệp trong quản lý. Rất nhiều tập đoàn có cổ phần liên quan đến hàng trăm công ty, đã được hình thành cả trong khu vực tư nhân. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam phát triển nhanh, có vốn, có kinh nghiệm đã mua lại doanh nghiệp FDI. Đây là tín hiệu tích cực trong sự thay đổi chiến lược của doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập.

Thứ tư, doanh nghiệp đã tận dụng khá tốt cơ hội thu hút vốn nước ngoài, tận dụng được sự mở rộng thị trường để tăng đầu tư phát triển, đặc biệt là thị trường dệt may, thủy hải sản và nông sản. Doanh nghiệp có tư duy mới, không chỉ bó hẹp ở thị trường nội địa mà vươn ra thị trường toàn cầu.

Thứ 5, tham gia WTO khuyến khích năng lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp nước ngoài, khi thực hiện cam kết giảm hàng rào thuế quan và các biện pháp bảo hộ phi thuế quan, doanh nghiệp trong nước sẽ phải nỗ lực cải tiến kĩ thuật nâng cao năng suất để cạnh tranh với doanh nghiệp và sản phẩm từ nước ngoài mà không còn gặp phải thuế quan bảo hộ.

Thứ 6, tăng cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế cho các doanh nghiệp Việt Nam: Việt Nam trở thành viên của WTO cho phép các doanh ngiệp đưa sản phẩm tới thị trường của khoảng 150 quốc gia trên thế giới với mức thuế suất thấp và không có biến động. Them nữa các quy chế trong thương mại wto ngày càng trở nên ưu đãi cho các quốc gia thành viên là các nước đang phát triển và chậm phát triển.

Thứ 7, việc tiếp cận các nhà cung cấp nước ngoài sẽ tạo điều kiện cho phát triển trong nước. Xét dưới góc độ nhâp khẩu các doanh nghiệp trong nước không chỉ nhận được nguồn nguyên liệu với giá rẻ hơn mà điều quan trọng là các doanh nghiệp trong nước có điều kiện tiếp cận với nhiều đối tác từ nhiều quốc gia do đó có cơ hội lựa chọn yếu tố đầu vào với giá rẻ hơn. Bên cạnh đó một số nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ kinh doanh như bảo hiểm, vận tải, tư vấn pháp luật.

2.          Những khó khăn

Các doanh nghiệp chưa mạnh dạn đầu tư, đổi mới công nghệ; công nghệ còn lạc hậu nên chúng ta chủ yếu mới chỉ dừng lại ở gia công lắp ráp, tham gia vào phân khúc cuối của thị trường, giá trị gia tăng trong sản phẩm không cao. Doanh nghiệp chưa đủ tầm, chưa đủ người để có thể nghiên cứu tốt thị trường thế giới, cũng như thị hiếu, đặc điểm hàng hóa, nhu cầu của người tiêu dùng. Đa số các doanh nghiệp chưa có cố vấn, chuyên gia về luật để tư vấn cho doanh nghiệp hoạt động đúng luật. Các doanh nghiệp chưa có sự gắn kết với nhau, chưa có ý thức cộng đồng, thậm chí, nhiều doanh nghiệp, vì lợi ích của mình, sẵn sàng cạnh tranh, tranh giành đối tác của nhau. Hoạt động của nhiều hiệp hội nghề nghiệp còn hình thức, theo phong trào, chưa có cơ chế để có sự ràng buộc giữa các hội viên với nhau, vẫn còn phổ biến tình trạng mạnh ai người ấy làm.

Cho đến nay, mặc dù đã có nhiều dấu hiệu hồi phục, nhưng khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu vẫn còn có những tác động không nhỏ đến nền kinh tế nước ta. Lạm pháp tăng cao, chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng, các ngân hàng siết chặt cho vay đã ảnh hưởng trực tiếp tới thị trường bất động sản, nhiều dự án, công trình xây dựng bị cắt giảm hoặc giãn tiến độ. Công nghiệp sản xuất xi-măng nói chung, Công ty Xi-măng Hoàng Thạch nói riêng, gặp nhiều khó khăn do giá vật tư­ đầu vào cho sản xuất, như than, điện, xăng dầu thường xuyên biến động theo chiều hướng tăng. Nguồn nguyên liệu đá vôi cho sản xuất gặp nhiều khó khăn do trữ lư­ợng ngày càng giảm, chất lư­ợng không ổn định và khó khai thác là trở ngại lớn đối với sản xuất, kinh doanh. Công ty Xi-măng Hoàng Thạch đã phải hạn chế tối đa chạy máy vào giờ cao điểm và chạy máy với năng suất cao, có thời gian phải giảm công suất. Trong những khó khăn chung, Công ty Xi-măng Hoàng Thạch, còn đối mặt với những khó khăn riêng như, sự xuống cấp của dây chuyền thiết bị, nguồn vốn trả nợ vay đầu tư thiếu, nguồn vốn bị chiếm dụng lớn; sự sự cạnh tranh quyết liệt từ các thương hiệu xi-măng khác có lợi thế cạnh tranh về giá bán.

Để tiếp tục phát triển trong môi trường cạnh tranh khắc nghiệt ở tầm khu vực và quốc tế, những điều cốt yếu mà các doanh nghiệp cần là nắm vững luật pháp; hiểu rõ thị trường; có tinh thần cộng đồng, “buôn có bạn, bán có phường”; đội ngũ doanh nhân phải có nhiệt huyết, có ý chí, khát vọng làm giàu.