Những tồn tại về tình hình đầu tư trong quá phát triển kinh tế của Việt Nam

Tình trạng đầu tư dàn trải, thất thoát, lãng phí… đã và đang tác động mạnh tới hiệu quả đầu tư của nhiều dự án hiện nay, và nếu tình hình này không được cải thiện sẽ không chỉ ảnh hưởng tới việc thu hút đầu tư mà cả kêu gọi tài trợ, viện trợ.

-           Vốn đầu tư tăng nhưng hấp thụ vốn thấp:

Theo báo cáo nghiên cứu đánh giá giữa kỳ tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2006 – 2010, Bộ Kế hoạch – Đầu tư đã nhận định: Mục tiêu kế hoạch về đầu tư cho 3 năm 2006 – 2008 chắc chắn sẽ hoàn thành vượt mức cả về tổng vốn đầu tư lẫn tính theo GDP. Điều này có nghĩa là nền kinh tế đang ngày càng dựa nhiều hơn vào đầu tư, chứ không dựa vào tăng thêm số người lao động, nâng cao năng suất để tăng trưởng. Tỷ trọng vốn đầu tư nhà nước vẫn là nguồn lực lớn nhất. Đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) chiếm tỷ trọng tăng dần từ 23,3% lên 29,3% năm 2007.

Đáng chú ý là thời gian gần đây các tập đoàn kinh tế và nhiều DNNN khác có xu thế mở rộng đầu tư kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực. Trong khi đó, công tác giám sát, nhất là về tài chính cũng như năng lực quản trị rủi ro của các tập đoàn đó không theo kịp.

Một vấn đề dễ nhận thấy là tăng trưởng đầu tư trong thời gian gần đây chủ yếu dựa vào khu vực FDI. Kể từ năm 2006 đến nay, dòng FDI vào Việt Nam tăng đột biến, hàng năm luôn đạt kỷ lục so với các năm trước.

Năm 2007, FDI đăng ký đạt 21,3 tỷ USD, vậy mà riêng 9 tháng đầu năm 2008 con số này đã lên tới 57,1 tỷ USD, cao gấp 2,7 lần FDI cả năm 2007.

Tương tự, vốn FDI thực hiện năm 2007 đạt trên 129,3 nghìn tỷ VND, chiếm 24,8% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Vốn FDI thực hiện năm 2008 ước đạt 143 nghìn tỷ, cao hơn rất nhiều so với các năm trước.

Điều đáng nói là chính dòng vốn FDI tăng đột biến đã làm bộc lộ khả năng hấp thụ vốn chưa cao của nền kinh tế, mà chủ yếu là do yếu kém về thể chế, kết cấu hạ tầng và nguồn nhân lực có kỹ năng. Đây đang là những “nút thắt cổ chai” đối với việc triển khai các dự án FDI.

–                     Hiệu quả đầu tư thấp:

Không khó để nhận ra rằng hiệu quả đầu tư các dự án hiện nay ở Việt Nam là thấp, đặc biệt là hiệu quả vốn đầu tư của khu vực nhà nước, trong khi đó khu vực này đang chiếm gần nửa tổng đầu tư toàn xã hội (41 – 46%).

Tình trạng đầu tư dàn trải, thất thoát, lãng phí, sử dụng vốn kém hiệu quả, chậm tiến độ thi công hoặc nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản… chưa được cải thiện
Điều đó có nghĩa là để tạo ra cùng một năng lực sản xuất, nhà nước phải bỏ ra nhiều kinh phí hơn và nhập khẩu nhiều đầu vào cho đầu tư hơn. Hiệu quả thấp trong đầu tư công đã được xác định là một trong những lý do chủ yếu dẫn tới lạm phát cao trong hai năm qua.

Đối với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và ngoài nhà nước, các dự án đầu tư không hiệu quả là các dự án không tận dụng được lợi thế của nền kinh tế, không phù hợp với lợi ích quốc gia.

Tuy nhiên đó là những yếu tố mang tính khách quan, còn yếu tố mang tính chủ quan của tình trạng yếu kém, thiếu hiệu quả trong đầu tư và xây dựng chủ yếu là do công tác quy hoạch, vấn đề phân cấp đầu tư và công tác quản lý, giám sát, thanh kiểm tra.

Bộ KH-ĐT cho biết, chất lượng công tác quy hoạch ở Việt Nam chưa cao, chưa có tầm nhìn dài hạn. Quy hoạch thường thiếu sự gắn kết giữa các ngành, chồng chéo và thiếu đồng bộ. Đặc biệt, lập quy hoạch và thực hiện quy hoạch ở ta không liên quan đến nhau.

Trong phân cấp đầu tư thì năng lực quản lý của cơ quan được phân cấp, quyền gắn với trách nhiệm được phân cấp và chế tài kiểm tra giám sát là ba điều kiện tiên quyết để phân cấp quản lý đầu tư và xây dựng có hiệu quả thì đã bị xem nhẹ hoặc lãng quên. Cả khi trách nhiệm về việc ra quyết định phê duyệt dự án sai cũng ít khi bị truy cứu trách nhiệm và có biện pháp xử lý thích đáng.

Trong thời gian gần đây, phân cấp quản lý đầu tư làm nảy sinh xu hướng muốn thu hút nhiều vốn FDI hơn vì đó thường được coi là thành tích của địa phương, các tỉnh cũng kỳ vọng là các dự án sẽ đóng góp nhiều cho ngân sách tỉnh mình. Tuy nhiên, theo một con số được công bố trên báo chí, đến năm 2007, khoảng 70% nhà đầu tư ở TPHCM báo cáo lỗ.

Hiệu quả đầu tư thấp còn có nguyên nhân rất lớn từ phía công tác quản lý, thanh tra, giám sát trong đầu tư và xây dựng ở các ngành, các cấp rất yếu kém. Bộ KH-ĐT cũng thừa nhận rằng phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ quản lý đầu tư và xây dựng còn kém, thường lợi dụng những kẽ hở của cơ chế chính sách, lợi dụng chức quyền, vị trí công tác để trục lợi bất chính nhưng lại chưa được xử lý triệt để.

Rõ ràng, với tình trạng đó, chúng ta không thể kỳ vọng vẫn trở thành một nước có môi trường đầu tư tốt và kêu gọi được nhiều các nguồn tài trợ, viện trợ. Lời giải cho bài toán này có lẽ phải bắt đầu từ việc xem lại cơ chế chính sách trong quản lý đầu tư và tính nghiêm minh trong việc thực thi pháp luật.

–                      Rào cản trong lĩnh vực đầu tư

Trong quá trình đổi mới, vốn đầu tư của Việt Nam gia tăng mạnh mẽ từ năm 1996 đến nay ở cả quy mô tuyệt đối và tỷ lệ so với GDP; năm 1996 tỷ lệ vốn đầu tư chỉ chiếm 32,1%, đến năm 2004 tổng mức đầu tư  toàn xã hội đã chiếm 36,3% GDP – Đây là mức cao so với nhiều quốc gia khác. Điều này chứng minh rằng tăng trưởng của Việt Nam chủ yếu do tăng mạnh mức đầu tư. Tuy nhiên, lĩnh vực này vẫn còn những rào cản cho tăng trưởng của nền kinh tế và cho chính lĩnh vực đầu tư.

Sự khép kín trong lĩnh vực đầu tư từ ngân sách nhà nước

Một trong những rào cản lớn trong lĩnh vực đầu tư hiện nay đó là tình trạng khép kín trong đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn nhà nước, việc tách bạch giữa chức năng quản lý nhà nước và quản lý kinh doanh tại các bộ, các ngành, các địa phương chưa rõ ràng, rành mạch. Như vậy sẽ tạo rào cản đối với các thành phần kinh tế khác nhau tham gia đầu tư, hạn chế tính minh bạch và công khai trong hoạt động đầu tư. Từ đó nẩy sinh tiêu cực và là nguồn gốc phát sinh thất thoát và lãng phí trong đầu tư từ nguồn vốn nhà nước.

Tính khép kín trong đầu tư hiện nay thể hiện từ khâu quy hoạch cho đến công tác chuẩn bị, thẩm định dự án, ban hành các định mức trong đầu tư, thiết kế kỹ thuật, thi công, giám sát thi công. Hiện nay công tác quy hoạch chưa tốt, thiếu tính khác quan và khoa học, ảnh hưởng đến chủ trương đầu tư chung. Trong khi đó việc phê duyệt các dự án phụ thuộc vào các bản quy hoạch này. Chính vì vậy dẫn đến 2 vấn đề: một là: Các tổng công ty doanh nhiệp nhà nước dùng quy hoạch để xin vay vốn tín dụng ưu đãi hoặc xin các khoản ưu đãi khác; hai là: nhiều doanh nghiệp không thực hiện được kế hoạch đầu tư của mình do không đúng quy hoạch.

Tính khép kín và cục bộ trong đầu tư cũng dẫn đến việc lồng ghép các quy hoạch như quy hoạch ngành, quy hoạch vùng lãnh thổ cũng như quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng,… còn nhiều bất cập. Sự gắn kết quy hoạch của từng vùng và quy hoạch chung của cả nước chưa tốt, dẫn đến sự bất đồng quan điểm giữa các bộ, ngành và địa phương. Không ít dự án quy hoạch đã được xác định nhưng thiếu căn cứ kinh tế xã hội tin cậy như ngành điện, xi măng. Nhiều dự án quy hoạch kết cấu hạ tầng chưa có tầm nhìn xa, như giao thông, cảng biển, sân bay… Một số cảng và sân bay xây dựng quá gần nhau, có cảng vừa xây xong đã có kế hoạch di dời. Bệnh sính thành tích cũng dẫn đến việc kế hoạch lập ra mang tính chủ quan.

Vấn đề này thực ra không chỉ là rào cản đối với quá trình đầu tư, mà còn ảnh hưởng đến tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng. Bởi vì, sự khép kín trong quy hoạch và trong chuẩn bị thực hiện đầu tư chính là nguồn gốc của tiêu cực và hậu quả là sự thất thoát, lãng phí vốn đầu tư.

Đầu tư dàn trải và nợ đọng vốn đầu tư

Tình trạng dàn trải đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước của các bộ, ngành và các tỉnh, thành phố đang là một vấn đề bức xúc trong lĩnh vực đầu tư, nó đã tạo ra một rào cản lớn cho sự phát huy hiện quả đầu tư, năng lực sản xuất. Tình trạng này tích tụ nhiều năm, gây lãng phí cực lớn dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp, không được khắc phục mà có chiều hướng gia tăng.

Biểu hiện là số dự án B,C (do các bộ, ngành, địa phương quản lý) tăng dần qua các năm; năm 2002 tăng 675 dự án so với năm 2001; năm 2003 tăng 2.978 dự án so với 2002 và năm 2004 tăng 1759 dự án so với 2003. Trong khi bình quân vốn bố trí cho các dự án qua các năm có xu hướng giảm dần: Năm 2001 là 5,33 tỷ đồng/dự án; năm 2002 còn 5,3 tỷ đồng/dự án; năm 2003 là 4,43 tỷ đồng/dự án; năm 2004 còn 4,33 tỷ đồng/dự án. Việc đầu tư dàn trải chính là rào cản ảnh hưởng tới thời gian thi công công trình, làm cho nhiều dự án dở dang, chậm đưa vào sử dụng nên không phát huy hiệu quả đầu tư. Đến năm 2004, cả nước có 1.430 dự án nhóm B và C vượt quá thời gian quy định (Trung ương 255 dự án và địa phương 1.175 dự án). Trong đó 250 dự án nhóm B kéo dài quá 4 năm, 1.180 dự án nhóm C kéo dài quá 2 năm.

Theo kết luận của Uỷ ban Thường vụ quốc hội, số dự án, công trình sử dụng vốn đầu tư trong cân đối ngân sách nhà nước tăng lên qua các năm không tương xứng với tốc độ tăng của vốn đầu tư; nhiều dự án, công trình được phê duyệt không dựa vào khả năng cân đối nguồn vốn, chưa đủ thủ tục cũng được ghi vào kế hoạch cấp vốn; việc triển khai thực hiện dự án, công trình kéo dài, không theo kế hoạch, khối lượng đầu tư dở dang nhiều (năm 2002, số dự án đầu tư dở dang chiếm tới 67,5% và năm 2003 chiếm 63,1% tổng số dự án được kiểm tra).

Bên cạnh vấn đề đầu tư dàn trải, tình trạng nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản cũng được xem là một rào cản rất lớn đối với nhiều bộ, ngành và địa phương trong thời gian tới; vấn đề nợ đọng tạo ra tình trạng dây dưa giữa nhiều chủ thể khác nhau trong nền kinh tế; chủ đầu tư nợ nhà thầu, nhà thầu nợ ngân hàng, nợ thuế nhà nước, nợ doanh nghiệp cung ứng đầu vào, nợ lương công nhân,… (hiện nay số nợ phải thu của doanh nghiệp nhà nước bằng 51% tổng số vốn và 23% tổng doanh thu của các DNNN)… Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tổng số nợ vốn đầu tư xây dựng cơ bản có liên quan đến nguồn vốn ngân sách đến hết năm 2003 là 11.000 tỷ đồng; trong đó, khối các bộ ngành trung ương nợ 3500 tỷ đồng; Bộ giao thông vận tải và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có số nợ vốn đầu tư xây dựng cơ bản lớn nhất. Ngoài tình trạng nợ đọng vốn đầu tư có liên quan đến nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, nợ đọng lớn và kéo dài còn xẩy ra ở các dự án, công trình sử dụng các nguồn vốn khác. Tính đến 31/12/2003 đã có 1.551 dự án nợ quá hạn vốn vay của Quỹ Hỗ trợ phát triển với tổng số nợ trên 1.185 tỷ đồng, số lãi treo của các dự án này trên 950 tỷ đồng.

Đầu tư dàn trải và nợ đọng vốn đầu tư là hai rào cản có quan hệ với nhau – chính vì bố trí dàn trải nên nợ đọng trong đầu tư xây dựng. Điều này chính là biểu hiện của tiêu cực.

-           Rào cản đối với đầu tư nước ngoài

*          Sự cạnh tranh về thu hút FDI ngày càng gay gắt trên thế giới và khu vực

Với xu hướng toàn cầu hoá đã được định hình, sự cạnh tranh về thu hút FDI trên thế giới và trong khu vực diễn ra ngày càng gay gắt. Trong bối cảnh dòng chảy vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vẫn chưa phục hồi sau 3 năm giảm liên tục, năm 2004 có tăng tuy nhiên chưa đạt ngưỡng của năm 2000, tính chất cạnh tranh thu hút FDI càng trở lên khốc liệt. Các nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển và đang phát triển đều tham gia vào cuộc chạy đua này.

Như vậy, có thể thấy xu hướng đầu tư giữa các nước phát triển với nhau vẫn chiếm tỷ trọng lớn (xấp xỉ 70%) trong khi dòng chảy vốn đầu tư vào các nước đang phát chiển chỉ chiếm khoản 30%. Điều này cho thấy sự cạnh tranh giữa các nước đang phát triển sẽ khốc liệt. Thực tế cho thấy, dòng chảy vào các nước đang phát triển đã ít về quy mô nhưng cũng có sự chọn lựa rõ ràng. Khoảng 90% chảy vào một số ít quốc gia có môi trường đầu tư hấp dẫn. Trong đó Trung quốc là một điển hình.

Sau khủng hoảng, các nước trong khu vực Đông Nam Á cũng đang nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư, nhằm cạnh tranh thu hút FDI. Các quốc gia này không chỉ là đối tác mà còn là đối thủ cạnh tranh của Việt Nam. Bên cạnh đó sự ra nhập WTO của Trung Quốc và khả năng thu hút FDI rất lớn của nước này cũng là một thách thức lớn đối với Việt Nam. Thời gian qua Việt Nam với những nỗ lực rất cao trong việc cải thiện môi trường đầu tư, nên đã có kết quả bước đầu, tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng môi trường đầu tư được cải thiện không chỉ được đánh giá về trạng thái trước – sau, mà còn phải đảm bảo tính hấp dẫn với các đối thủ cạnh tranh. Theo ý kiến của một giám đốc đầu tư và thương mại quốc tế của một tập đoàn lớn của Mỹ được công ty tư vấn quốc tế A.T. Kearney chọn trong hơn 1000 ý kiến điều tra về môi trường đầu tư thì: “Đối với thị trường Việt nam, chúng tôi không chắc chắn sẽ đầu tư vào thị trường này trong thời gian tới đây. Đầu tư cho các ngành công nghệ cao, chúng tôi đã có những khoản đầu tư lớn vào Châu Á, nhất là Trung Quốc, Malaysia và Singapore. Tuy nhiên, ở Việt Nam, chi phí giao dịch cao, công nghệ thông tin tốn kém và Luật Thương mại chưa phát triển là những thách thức đối với chúng tôi”. Chính vì vậy mà kết luận của công ty A.T.Kearney là mặc dù Việt Nam có những tiến bộ nhất định trong cải thiện môi trường đầu tư, nhưng chỉ là cải thiện so với họ trước đây, nhưng “Việt Nam không chỉ cần chạy nhanh mà còn phải chạy nhanh hơn các nước khác”. Cũng theo kết quả nghiên cứu của công ty này, Việt Nam vẫn nằm trong danh sách 15 nước có thị trường hấp dẫn đầu tư nhất ở thị trường Châu Á, nhưng thứ bậc của Việt Nam vào tháng 9 năm 2004 giảm 4 bậc so với cùng thời năm 2003. Chú ý rằng ý kiến của các công ty Tư vấn tư nhân là rất quan trọng  đối với nhà đầu tư.

*          Môi trường đầu tư kém minh bạch và thiếu nhất quán

Rào cản về môi trương đầu tư của Việt Nam trong thời gian tới vẫn là: Khả năng thay đổi và khó tiên liệu về chính sách, thông tin kém minh bạch và công khai, tình trạng tham nhũng, chi phí của một số yếu tố đầu vào như cước viễn thông, điện nước, cước vận tải biển nhìn chung còn cao, dịch vụ cơ sở hạ tầng thấp.

Tính nhất quán minh bạch trong chính sách đối với nhà đầu tư là một vấn đề mà các nhà đầu tư quan tâm hàng đầu. Trong diễn đàn doanh nghiệp tổ chức vào năm 2004, một số nhà đầu tư khá hoang mang về khả năng những dự án khả thi của mình đột nhiên biến thành không khả thi do những thay đổi và không rõ ràng về chính sách. Báo cáo phát triển thế giới nhan đề “Môi trường đầu tư tốt hơn cho mọi người” tiến hành điều tra 26000 doanh nghiệp ở 53 quốc gia đang phát triển cho thấy các nhà đầu tư xếp sự bất định về chính sách là mối quan ngại hàng đầu của họ. Các rủi ro liên quan đến chính sách làm suy giảm nghiêm trọng động lực đầu tư. Báo cáo này đưa ra đánh giá, nâng cao khả năng tiên liệu chính sách có thể làm tăng khả năng thu hút đầu tư mới lên 30%.

*          Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp vừa thiếu vừa yếu

Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp như đào tạo, kế toán, tư vấn thuế và tài chính, mức độ phát triển các dịch vụ hỗ trợ phát triển doanh nghiệp có thể được lấy làm thước đo khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế.

Ở các nước phát triển, các dịch vụ hỗ trợ phát triển chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng sản phẩm trong nước. Tại Singapore, tỷ lệ các ngành dịch vụ hỗ trợ phát triển chiếm hơn 15% GDP.

Sự yếu kém của dịch vụ phát triển tại Việt Nam hiện nay có nhiều nguyên nhân, trong đó có hai nguyên nhân cơ bản là môi trường pháp lý tại Việt Nam chưa thuận lợi cho sự phát triển loại dịch vụ này và tính minh bạch công khai về thông tin trên thị trường còn hạn chế. Mặc dù đã có nhiều tiến bộ nhất định trong môi trường pháp lý kinh doanh tại Việt Nam, tuy nhiên vẫn còn khá nhiều tồn tại cản trở sự phát triển của các dịch vụ này. Cụ thể, vẫn còn nhiều văn bản không phù hợp Luật Doanh nghiệp như Nghị định 87/2002/DN-CP về cung ứng dịch vụ tư vấn; điều kiện tham gia thị trường còn quá cao đối với một số dịch vụ như đào tạo nghề, sở hữu trí tuệ; hướng dẫn đăng ký kinh doanh đối với một số nghề như tư vấn pháp lý, quảng cáo, tư vấn thuế và tài chính… còn thiếu rõ ràng, còn một số cản trở khác như hạn chế mức chi phí cho quảng cáo, hầu như không thừa nhận kết quả kiểm toán của các công ty tư vấn tư nhân..; cách ứng xử chưa phù hợp của các cơ quan đăng ký kinh doanh, chẳng hạn như không thụ lý hồ sơ đăng ký kinh doanh một trong những loại dịch vụ hỗ trợ kinh doanh với lý do là chưa nghe thấy bao giờ.

Theo quy định hiện hành, Việt Nam vẫn chưa thừa nhận việc hành nghề tư vấn cá nhân mà yêu cầu các nhà tư vấn cá nhân phải hoạt động trong một tổ chức nào đó. Quy định này làm cho không ít chuyên gia tư vấn có kinh nghiệm và trình độ cao không được sử dụng và được chia sẻ kinh nghiệm dưới dạng tư vấn cá nhân.