Những ưu thế và hạn chế của ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam

Hiện nay, Việt Nam đã gia nhập ASEAN, APEC, WTO, đã là thành viên không thường trực Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc nên có những thau đổi tích cực như: đổi mới và cải cách mạnh mẽ trong quản lý hành chánh, hứa hẹn nhiều thuận lợi cho nhà đầu tư trong hoạt động sản xuất và kinh doanh. Bên cạnh đó, Việt Nam có tính hình chính trị ổn định, tạo tâm lý an toàn để nhà đầu tư hoạch định lâu dài, sản xuất kinh doanh dài hạn. Luật pháp của nước ta cũng đang ngày càng được hoàn thiện phù hợp với thông lệ và tập quán quốc tế, đảm bảo quyền lợi nhà đầu tư, hạn chế các khó khăn do khác biệt về luật lệ, quy định cho các nhà đầu tư vào Việt Nam. Ngoài ra, lực lượng các xưởng, cơ sở kim khí, làng nghề truyền thống trên khắp cả nước sẽ hỗ trợ tích cực cho CNPT phát triển.

Tuy nhiên, hiện nay công nghiệp Việt Nam còn quá yếu, hiện nay có quá ít ngành có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Nguyên nhân: một phần vì cơ cấu đầu tư nghiêng về những ngành Việt Nam không có lợi thế so sánh (những ngành thuộc công nghiệp nặng như sắt thép, xi măng, phân bón, luyện kim…) nên sản xuất chủ yếu là cho thị trường nội địa, FDI cũng tập trung nhiều vào những ngành thay thế nhập khẩu. Công nghiệp phụ trợ đã và đang có những ảnh hưởng rất lớn tới công nghiệp nói riêng và toàn ngành kinh tế Việt Nam nói chung nhưng doanh nghiệp phụ trợ chưa xác định các chiến lược lâu dài. Chiến lược phát triển giai đoạn 2011-2020 cũng chỉ nhắc đến CNPT vỏn vẹn trong 7 từ: “phát triển mạnh công nghiệp phụ trợ” chứ thực tế thì các doanh nghiệp không có bước tiến, trong việc tổ chức và xây dựng chiến lược hoạt động đang là hạn chế cơ bản nhất của CNPT.

Sự phối hợp giữa các doanh nghiệp chưa chặt chẽ: các doanh nghiệp phần lớn là hoạt dộng riêng rẽ và thiếu chủ động yêu cầu hỗ trợ của khối doanh nghiệp tư nhân, vốn là nhân tố chính của cuộc chơi kinh tế thị trường và cũng là đối tượng chính trong sản xuất CNPT.

Việt Nam còn nhập siêu do thiếu nguyên vật liệu. Một số công ty nước ngoài thay vì sản xuất tại Việt Nam sẽ chuyển sang nhập khẩu sản phẩm của chính họ để phân phối trên thị trường Việt Nam. Tỷ lệ nội địa hoá linh phụ kiện của các ngành sản xuất ở mức thấp. Doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ yếu nên không tăng cường khả năng cạnh tranh, nếu có thì chủ yếu tham gia khâu đóng gói, bao bì, … dẫn đến giá sản phẩm cao nên khó cạnh tranh. Hiện nay, nhà nước chưa có sự triển khai các chính sách phù hợp và sự hỗ trợ kịp thời, đúng mức và hỗ trợ nguồn vốn cho các doanh nghiệp phụ trợ và kỹ thuật sản xuất tiên tiến. Ngoài ra các ngành công nghiệp phụ trợ chưa nhận biết tầm quan trọng của việc tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp và có những hình thức sản xuất tích hợp theo chiều dọc, không chuyên môn hoá.  Quy mô, thông tin phối hợp giữa FDI và SME còn hạn chế. Chưa có hệ thống cung ứng có kiểm soát: ngành công nghiệp ôtô hình thành 5 cấp bậc sản xuất với hàng nghìn các doanh nghiệp tham gia trong đó nhiều nhất là các doanh nghiệp cung cấp nguyên vật liệu, kế đến là các doanh nghiệp nhỏ, các doanh nghiệp lớn vừa và doanh nghiệp rất lớn cung cấp linh kiện, cuối cùng là nhà lắp ráp.