Những vấn đề cần lưu ý khi sử dụng phương thức tín dụng chứng từ

 

Thứ nhất là, văn bản pháp lý quốc tế thông dụng của tín dụng chứng từ là Quy tắc & Thực hành thống nhất Tín dụng chứng từ, bản số 500, bản sửa đổi năm 1993” của Phòng Thương mại quốc tế (Uniform Customs and Pratice for Documentary Credits ICC, 1993 Revision, No 500). Từ đây chúng ta gọi tắt là bản Quy tắc 500. Bản Quy tắc 500 này mang tính chất pháp lý tùy ý, có nghĩa là khi áp dụng nó các b ên đương sự phải thỏa thuận ghi vào L/C đồng thời có thể thỏa thuận khác, miễn là có dẫn chiếu.

Bản Quy tắc này bao gồm 49 điều, chia thành 7 phần : (Nguyễn Trọng Thuỷ. 2003)

  1. Những qui định chung và định nghĩa (điều 1-5)
  2. Hình thức và thông báo thư tín dụng (điều 6-12)
  3. Nghĩa vụ và trách nhiệm (điều 13-19)
  4. Các chứng từ (điều 20-38)
  5. Các điều qui định khác (điều 39-47)
  6. Tín dụng chuyển nhượng (điều 48)
  7. Chuyển nhượng tiền thu được (điều 49)

Cần lưu ý rằng tín dụng chứng từ là một giao dịch của ngân hàng theo yêu cầu của khách hàng nhằm thực hiện công đoạn cuối c ùng của hàng loạt giao dịch th ương mại quốc tế giữa hai bên mua và bán, đáp ứng yêu cầu của cả hai phía: người bán giao hàng và được trả tiền, người mua trả tiền và được nhận hàng. Ngân hàng là người bảo đảm thanh toán, trở thành nhịp cầu nối đáng tin cậy của nền mậu dịch các n ước. Tầm quan trọng của giao dịch tín dụng chứng từ đòi hỏi phải có hành lang pháp lý để các ngân hàng thực hiện. Bản Quy tắc 500 thể hiện đầy đủ thông lệ và tập quán quốc tế và được các ngân hàng thương mại trên toàn thế giới chấp nhận và áp dụng. Nhưng tín dụng chứng từ còn là các giao d ịch phát sinh trong nước, do vậy nó luôn được chi phối bởi Luật pháp quốc gia. Như vậy, giao dịch tín dụng chứng từ được tiến hành trên hành lang pháp lý q uốc tế và quốc gia. Quy tắc 500 l à tập quán quốc tế áp dụng trên phạm vi toàn cầu, còn luật pháp quốc gia chỉ áp dụng trong phạm vi của một nước.

Theo Nguyễn Trọng Thuỷ (2003), ở n ước ta, tất cả các ngân hàng thương mại và các đơn vị kinh doanh ngoại thương đã thống nhất sử dụng bản Quy tắc 500 như một văn bản pháp lý điều chỉnh các loại thư tín dụng được áp dụng trong thanh toán quốc tế giữa Việt Nam và các nước ngoài. Về lý thuyết, việc vận dụng thông lệ quốc tế tại n ước ta gần như tuyệt đối mà không bị bất cứ sự điều chỉnh nào. Đây là nét đặc thù của Việt Nam. Đối với các quốc gia khác, họ đều có các văn bản Luật hoặc Văn bản dưới luật qui định về giao dịch tín dụng chứng từ trên cơ sở thông lệ quốc tế có tính đến đặc th ù của quốc gia, tập quán của nước họ. Các văn bản như vậy là rất cần thiết nhằm đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam, tuy nhiên ở nước ta còn chưa có.

Thứ hai là, tính độc lập tương đối của thư tín dụng. Giao dịch tín dụng chứng từ độc lập với các giao dịch khác. Trên quan điểm của ngân hàng, thư tín dụng độc lập với hợp đồng giữa người mở và người hưởng mặc dù thư tín dụng cụ thể hoá nghĩa vụ và quyền lợi của hai bên: bên mua và bên bán, trong đó bên mua yêu cầu ngân hàng đảm bảo thanh toán cho bên bán, bên bán phải giao hàng đúng qui định theo hợp đồng, đúng thời hạn, thiết lập chứng từ hoàn chỉnh và hợp lệ, thông báo cho người mua và các điều kiện khác đã thoả thuận. Tính độc lập của thư tín dụng được thể hiện ở điều 4 trong bản Quy tắc 500 nh ư sau: “Trong nghiệp vụ tín dụng chứng từ, tất cả các b ên liên quan ch ỉ giao dịch bằng chứng từ mà không giao d ịch bằng hàng hoá, các dịch vụ và/hoặc các công việc khác mà chứng từ đó có thể liên quan”. Tuy nhiên trên phương di ện tổng thể tính độc lập của th ư tín dụng chỉ là tương đối, bởi vì đối với người mua và người bán, thư tín dụng phải là những giao dịch li ên quan chặt chẽ với các giao dịch của hợp đồng thương mại, mặc dù trong quan hệ với ngân hàng họ phải thừa nhận hai loại giao dịch là tách biệt.

Thứ ba là, lưu ý về yêu cầu xin mở thư tín dụng nhập khẩu: Ngưòi nhập khẩu Việt Nam muốn mở thư tín dụng cho người xuất khẩu hưởng trước hết phải viết yêu cầu mở thư tín dụng gửi đến Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam hoặc ngân hàng Thương mại nào đó được quyền thanh toán quốc tế.

Viết giấy xin mở thư tín dụng nhập khẩu để gửi đến Ngân hàng là một khâu quan trọng của phương thức tín dụng chứng từ, bởi v ì chỉ trên cơ sở của giấy này, ngân hàng mới có căn cứ để mở thư tín dụng cho người xuất khẩu hưởng và sau đó, người xuất khẩu mới giao hàng.

Giấy xin mở thư tín dụng nhập khẩu sau khi đã được ngân hàng đồng ý mở thì trở thành một khế ước dân sự giữa người nhập khẩu và ngân hàng, còn đối với người xuất khẩu nước ngoài, họ chỉ biết tới L/C mà ngân hàng Việt Nam mở cho họ hưởng mà thôi.

Cơ sở pháp lý và nội dung để lập giấy xin mở thư tín dụng là hợp đồng mua bán ký kết giữa người nhập khẩu và người xuất khẩu.

Viết giấy xin mở thư tín dụng theo mẫu in sẵn của Ngân hàng Việt Nam và theo thủ tục hiện hành của ngân hàng quy định.

Hồ sơ mà người nhập khẩu phải gửi đến ngân hàng mở thư tín dụng ở Việt Nam bao

gồm:

(1)  Yêu cầu mở thư tín dụng nhập khẩu, 2 bản

(2)  2 ủy nhiệm chi, một để trả thủ tục phí mở L/C, một để ký quỹ mở L/C.

(3)  Hợp đồng thương mại (bản sao)

(4)   Giấy phép nhập khẩu hoặc quota đối với những hàng hoá quản lý bằng hạn ngạch

(5)   Quyết định bổ nhiệm giám đốc và kế toán trưởng (bản sao)

(6)   Giấy phép kinh doanh (bản sao)

(7)  Báo cáo tài chính của đơn vị xin mở thư tín dụng

(8)    Số dư tài khoản ngoại tệ tại ngân hàng mở L/C tối thiểu 500USD hoặc ngoại tệ tưong đương.

(9)  Một số chứng từ khác có liên quan (tuỳ theo từng ngân hàng yêu cầu khác nhau)