Những vấn đề đặt ra cho các quốc gia thực hiện tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN

Những vấn đề đặt ra về kinh tế

Các chuyên gia kinh tế dự đoán “lợi ích từ việc thực hiện AEC có thể góp phần tăng tổng sản lượng kinh tế ASEAN lên 7% vào năm 2025 và tạo ra khoảng  14 triệu việc làm mới cho người lao động”. Nhưng những lợi ích này sẽ chỉ là lý thuyết nếu như các thỏa thuận về di chuyển dòng lao động tự do không được thực hiện. Điều đó cho thấy việc thực hiện tự do di chuyển lao động có chuyên môn sẽ  có tác động về nhiều mặt, không chỉ tác động đến sự tăng trưởng kinh tế của từng quốc gia thành viên ASEAN; mà các chuyên gia hy vọng dòng lao động có chuyên môn này sẽ phát huy những nền tảng và kỹ năng để phát triển nền kinh tế khu vực.

Trong khuôn khổ của luận án, tác giả tập trung phân tích tác động nhiều chiều của việc thực hiện di chuyển tự do lao động có chuyên môn đến kinh tế ASEAN theo ba hướng: tác động đến các nước gửi lao động, tác động đến các nước nhận lao động và tác động đến nền kinh tế chung toàn khu vực.

Thứ nhất, tác động tới các nước gửi lao động.

Một là, tác động tích cực. Hiện nay, xuất khẩu lao động được coi là giải pháp giảm áp lực dân số và thất nghiệp ở nhiều quốc gia trong khu vực ASEAN. Tự do di chuyển lao động có chuyên môn tác động đến nền kinh tế của nước gửi lao động thông qua chất lượng nguồn nhân lực, người lao động khi di chuyển đến quốc gia khác làm việc có điều kiện tiếp cận với khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại, học tập cách làm ăn, tạo lập và phát triển nghề nghiệp; học tập cách quản lý, thay đổi phong cách, tác phong làm việc. Sau khi về nước lực lượng lao động này sẽ áp dụng kiến thức kỹ năng mới vào trong quá trình hoạt động sản xuất, giúp thúc đẩy phát triển kinh tế (Xem Bảng 12 Phụ lục). 

Hai là, tác động tiêu cực, tác động tiềm tàng của việc một lượng người lao động có chuyên môn rời đất nước đi tìm công việc có thu nhập cao hơn thông qua các MRA sẽ làm giảm nguồn cung nhân lực ở quốc gia đó.  í dụ: “Philippines  trong những năm gần đây là một trong những quốc gia xuất khẩu nhiều nhân viên y tế có chuyên môn, do đó quốc gia này đang phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt nhân viên y tế phục vụ cho quá trình phát triển của mình”.

Thứ hai, tác động tới các nước nhận lao động.

Một là, tác động tích cực, hầu hết các quốc gia ASEAN đang có nhu cầu rất lớn đối với lực lượng lao động kỹ thuật; Singapore và Malaysia đang thiếu lực lượng lao động trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, marketing. Việt Nam có lao động tay nghề cao ở một số ngành nghề bậc cao và bậc trung như: công nghệ thông tin, dệt may, giầy da, chế biến thực phẩm, một số ngành cơ khí… do đó lực lượng lao động này có thể bù đắp sự thiếu hụt lao động của các nước khác trong khu vực như Thái Lan, Malaysia; ngược lại Việt Nam có thể tuyển dụng lao động giá rẻ của Lào, Campuchia. Sự di chuyển tự do của lao động có chuyên môn cũng tác động đến nền kinh tế của nước nhận lao động thông qua việc tạo cơ hội tuyển dụng nhân sự chất lượng cao cho các doanh nghiệp.

Hai là, tác động tiêu cực, việc tiếp nhận lực lượng lao động có chuyên môn của nước ngoài có những ảnh hưởng tiêu cực nhất định đối với nền kinh tế của các nước tiếp nhận. Đó là áp lực cho người lao động bản địa, tình trạng thất nghiệp gia tăng, ảnh hưởng tới thu nhập của gia đình và mức sống của lao động bị mất việc, cuộc sống của các thành viên khác trong gia đình. Mặt khác, di chuyển lao động có chuyên môn trong nội khối sẽ gây áp lực cho nước nhận lao động về cơ sở hạ tầng, các dịch vụ công cộng, điều này sẽ tác động lớn tới tăng trưởng ít nhất là trong một giai đoạn nhất định.

Thứ ba, tác động về kinh tế trên toàn khu vực.

Đánh giá tác động của tự do di chuyển lao động có chuyên môn phải xem xét từ lợi ích chung của toàn khu vực. Đây là cơ hội cho người lao động trong toàn khu vực chứ không chỉ là một lựa chọn đơn thuần về chính sách.

Một là, việc thực hiện cam kết tự do di chuyển lao động nội khối giúp thúc  đẩy các dòng di chuyển lao động có chuyên môn hình thành thị trường lao động chung trong khu vực. Những năm qua, cùng với sự thay đổi nhân khẩu, mức chênh lệch tiền lương và trình độ lao động đã thúc đẩy dòng dịch chuyển lao động nội khối. Việc thực hiện các cam kết di chuyển tự do lao động có chuyên môn giữa các quốc gia ASEAN dù vẫn diễn ra hết sức chậm chạp nhưng cũng đã góp phần thúc đẩy dòng dịch chuyển của lao động có chuyên môn giữa các quốc gia trong khu vực (Xem Bảng 6, Bảng 7, Bảng 11, Bảng 12 Phụ lục).

Hai là, doanh nghiệp ở tất cả các quốc gia có cơ hội tuyển dụng nhân sự đáp ứng nhu cầu của mình, cũng là áp lực để lao động của các quốc gia buộc phải nâng cao trình độ. Mặt khác, lao động của nhiều quốc gia được làm việc với nhau giúp họ được cọ sát, học hỏi từ những lao động có trình độ chuyên môn cao; được tiếp xúc với một tri thức mới, cung cách làm việc mới, cách thức quản lý mới; sẽ giúp họ có nhiều kiến thức kỹ năng để tạo dựng, phát triển nghề nghiệp sau này. Bên cạnh đó, lao động không có chuyên môn không được di chuyển tự do sẽ ít có cơ hội việc  làm, đây là áp lực buộc các nước phải điều chỉnh quy trình đào tạo, trang bị kỹ năng cho người lao động. Tạo sự cạnh tranh, nâng cao năng suất lao động, cải thiện chất lượng công việc cũng như làm giảm chi phí lao động.

Ba là, tự do di chuyển lao động nội khối giúp sử dụng lao động hiệu quả hơn trong toàn khối. Quá trình già hóa dân số cùng với sự phát triển kinh tế mạnh mẽ khiến một số quốc gia như Singapore, Thái Lan, Malaysia đang phải đối mặt với việc thiếu hụt lực lượng lao động. Trong khi đó các nước như iệt Nam hay Lào lại sở hữu lực lượng lao động dồi dào. Khi người lao động được tự do di chuyển sẽ tạo ra các dòng chảy lao động để các doanh nghiệp có thể thu hút nhân tài trong toàn khu vực và người lao động có cơ hội tìm kiếm việc làm nâng cao thu nhập cho bản thân và gia đình.

Bốn là, mức sống của một bộ phận dân cư tăng nhờ mức lương tăng. Thực tế cho thấy “lao động có kỹ năng cao tại các nước có trình độ phát triển thấp hơn trong khu vực có khả năng sẽ có mức tăng lương lớn nhất trong khuôn khổ AEC: tại Campuchia 20,1%; Lào 17,8% và Việt Nam 14,2%” [43, tr.85]. Lao động có kỹ năng cao ở Philippines và Thái Lan cũng sẽ được hưởng lợi đáng kể, ở mức độ thấp hơn là người lao động ở Indonesia. Tương tự như vậy, lao động kỹ năng trung bình tại tất cả các nước cũng sẽ được hưởng lợi từ AEC, mặc dù ở mức độ thấp hơn. Mô hình cho thấy tiền lương của lao động chưa qua đào tạo chỉ tăng một chút, nhưng nhiều cơ hội việc làm trong các ngành mới lại được tạo ra.

Năm là, kinh tế của các quốc gia sẽ có điều kiện phát triển nhờ quá trình chuyển đổi cơ cấu việc làm trên toàn khu vực do tác động của dịch chuyển lao  động. Tự do di chuyển lao động có chuyên môn trong AEC tạo cơ hội việc làm tốt hơn cho người lao động có chuyên môn trong khối, nhiều việc làm mới sẽ được tạo ra, giúp cho thanh niên thấy được sự phát triển việc làm, từ đó có thể lựa chọn ngành, nghề phù hợp; tuy nhiên người lao động trong các ngành bị thu hẹp sản xuất sẽ phải đối mặt với tình trạng thất nghiệp nhưng đó cũng là cơ sở cho quá trình chuyển dịch cơ cấu việc làm trên toàn khu vực.

Những vấn đề đặt về văn hóa, chính trị, xã hội

iệc tự do di chuyển lao động có chuyên môn giữa các quốc gia ASEAN ở một khía cạnh nào đó cũng chính là sự dịch chuyển của con người từ quốc gia này sang quốc gia khác để sinh sống và làm việc. Do đó quá trình này mang nhiều đặc trưng của di cư. Di cư chưa bao giờ chỉ tác động đơn thuần về kinh tế mà còn có những tác động nhiều chiều lên các lĩnh vực khác của đời sống xã hội như văn hóa, chính trị… Những tác động chính trị – xã hội này lại thường rất khó lượng hóa, có thể được xem xét ở các cấp độ khác nhau; từ cấp độ bản thân người di cư, gia đình họ, bạn bè cùng trang lứa, cộng đồng nơi đi/nơi đến; cho đến các cấp độ cao hơn như quốc gia hay toàn khu vực. Tác giả xin được tập trung chủ yếu vào phân tích tác động của quá trình dịch chuyển lao động có chuyên môn đến lĩnh vực văn hóa, xã hội và chính sách của các quốc gia ASEAN; cũng như tác động của vấn đề này đến sự phát triển chung của toàn khu vực ASEAN.

Những tác động này được phân tích trên một vài khía cạnh như sau:

Thứ nhất, tạo cơ hội có việc làm, giúp xóa đói giảm nghèo. ới các quốc gia ASEAN nghèo đói vẫn là vấn đề nghiêm trọng, “1/8 dân số của các quốc gia trong khu vực này vẫn đang phải sống dưới ngưỡng nghèo nghĩa là thu nhập của họ thấp hơn 1,25 USD/ngày, 31% người dân khu vực thành thị của các quốc gia này vẫn phải sống trong các khu nhà ổ chuột” [10, tr.31]. iệc thực hiện tự do di chuyển lao động có chuyên môn sẽ góp phần nâng cao mức thu nhập cho người nghèo, cải thiện chất lượng cuộc sống của bản thân và gia đình họ, do đó sẽ có tác động nhiều chiều về kinh tế và xã hội không chỉ ở những vùng quê nghèo, mà còn góp phần vào sự phát triển, thịnh vượng chung của toàn khu vực.

Theo các nghiên cứu về tác động kinh tế của xuất khẩu lao động cho thấy: Mức thu nhập trung bình của một người lao động iệt Nam làm việc theo hợp đồng trong nội khối ASEAN khoảng 8 triệu đồng/tháng với hợp đồng kéo dài 2-3 năm, cao hơn nhiều so với thu nhập của họ trước khi đi xuất khẩu. Những người lao động làm việc ở khu vực ASEAN có thể bù đắp chi phí di chuyển lao động khoảng gần 1,5 năm. ì vậy, với những hợp đồng lao động từ 2 năm trở lên thì sẽ có một lượng kiều hối được gửi về nước, góp phần gia tăng GDP trong nước. Trung bình lao động đi Malaysia tích lũy mang về nước khoảng 51 triệu đồng/người. Trong quá trình làm việc ở nước ngoài, hầu hết ( 6,07%) người lao động đều chuyển tiền định kỳ (2-3 tháng/lần) về nhà để giải quyết các nhu cầu cấp bách của gia đình hay để đầu tư hoặc gửi tiết kiệm. Tỷ suất sinh lời nội bộ ở thị trường Malaysia (nơi người lao động iệt Nam có mặt nhiều nhất trong khu vực ASEAN) thì IRR= 34,07% cao hơn nhiều lãi suất ngân hàng [62, tr.19].

Một nghiên cứu mới của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) cho thấy sự ra đời của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) hỗ trợ thúc đẩy tăng tưởng GPD của iệt Nam thêm 14,5%. Điều này chỉ có thể trở thành hiện thực nếu chúng ta thực hiện tốt các cam kết của Cộng đồng kinh tế ASEAN, trong đó có cam kết về tự do di chuyển lao động có chuyên môn.

Thứ hai, di cư bất hợp pháp đang là một vấn đề mà các quốc gia ASEAN phải đối mặt. Lao động bất hợp pháp bao gồm nhiều loại như: lao động không có giấy phép xuất cư; lao động có giấy phép xuất cư nhưng không có giấy phép đi làm việc ở nước ngoài; lao động ở lại sau khi hết hạn thị thực; lao động phá hợp đồng, bỏ trốn khỏi nơi làm việc; lao động di cư qua các kênh không chính thức. Trong giai đoạn 2009-2010, Tổ chức di cư quốc tế ước tính có “khoảng 1.445.000 lao động di cư không đăng ký ở Thái Lan đến từ Campuchia, Lào và Myanmar so với chỉ

79.000 lao động nhập cư chính thức và 32.000 người đã được hợp pháp hóa theo chương trình thẩm tra quốc tịch”. Tại khu vực ASEAN, “lao động Việt Nam sang Thái Lan trái phép có chiều hướng tăng với 6.108 lao động đang làm việc bất hợp pháp ở nhiều lĩnh vực như bồi bàn, bán hàng, may mặc”.

Những lao động di cư bất hợp pháp thường không được bảo vệ về quyền lợi như không được đóng bảo hiểm, dễ bị lạm dụng cả về thể xác lẫn tinh thần, bị đánh đập, bị chửi mắng, thậm chí lạm dụng tình dục, đặc biệt với lao động nhập cư nữ. Việc người lao động di cư bất hợp pháp sẽ làm tổn hại nghiêm trọng đến quyền lợi của người lao động đặc biệt trong xu hướng mà di cư lao động nữ ngày càng gia tăng (Xem Bảng 4 Phụ lục). Người lao động tự ý di cư sang các quốc gia mà nước mình chưa có quan hệ hợp tác lao động khiến cho việc bảo vệ quyền lợi cho người lao động gặp nhiều khó khăn. Tình trạng lao động di cư bất hợp pháp mặc dù có tạo ra một số lợi ích nhỏ đối với người chủ sử dụng lao động như trả lương thấp, nhưng cũng khiến cho việc quản lý lao động của nhà nước trở nên khó khăn,và dẫn đến nhiều vấn đề bất ổn, nguy cơ phát sinh tội phạm từ những đối tượng lao động bất hợp pháp, tình trạng buôn bán người, lạm dụng lao động trẻ em, lạm dụng tình dục với phụ nữ… chính vì vậy, các quốc gia trong khu vực đang nỗ lực để giải quyết tình trạng này.

iệc thực hiện tự do di chuyển lao động có chuyên môn mở ra nhiều cơ hội dịch chuyển lao động giữa các quốc gia ASEAN, do đó góp phần không nhỏ trong việc giảm tình trạng buôn bán người hay di cư lao động bất hợp pháp ở khu vực. Nếu các quốc gia ASEAN thực hiện tốt cam kết này thì người lao động sẽ giảm được nguy cơ phải đối mặt với nhiều vấn đề ảnh hưởng tới quyền lợi của họ. Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc giúp Cộng đồng ASEAN trở nên hoàn chỉnh hơn với ba trụ cột là chính trị-an ninh, kinh tế, và văn hóa – xã hội. Giúp các quốc gia giải quyết nhiều vấn đề về an ninh chính trị, tội phạm xuyên biên giới…

Thứ ba, tạo cơ hội giao lưu phát triển văn hóa, gắn kết tình hữu nghị giữa nhân dân các quốc gia trong khu vực ASEAN. Giao lưu, tiếp biến văn hóa thường diễn ra thông qua quá trình di chuyển của các dòng di cư. iệc người lao động được tự do di chuyển là cơ hội để người dân các quốc gia ASEAN giao lưu học hỏi văn hóa, phát triển mối quan hệ giữa các quốc gia thông qua giao lưu nhân dân. Thông qua giao lưu nhân dân, giao lưu văn hóa xã hội giúp các dân tộc trong cộng đồng hiểu biết nhau hơn, đoàn kết với nhau hơn; chính điều này là nền tảng để thúc đẩy quan hệ trụ cột về chính trị – an ninh, cũng như trụ cột về kinh tế trong ASEAN trong thời gian tới. Với sự tin tưởng lẫn nhau và tình hữu nghị, các nước ASEAN có thể tập hợp nguồn lực để phát triển kinh tế, kết nối nền kinh tế nội khối và hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu. Tăng cường sự hiểu biết giữa các nước, tiếp thu thành tựu văn hóa nhân loại, những phong tục tập quán phong phú để cùng nhau phát triển.

Thứ tư, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các quốc gia ASEAN. Thực hiện tự do di chuyển lao động đã bước đầu chứng minh tính hiệu quả trong việc phát triển và tăng cường gắn kết các thể chế cũng như khuôn khổ chính sách, góp phần thúc đẩy phát triển con người, công bằng, an sinh xã hội và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước ASEAN.

Thứ năm, tăng cường vị thế ASEAN trong quan hệ kinh tế quốc tế. Hợp tác kinh tế ASEAN được đặt trong bối cảnh khi mà sức ép cạnh tranh kinh tế từ bên ngoài khối, khiến ASEAN đang đứng trước nguy cơ tan rã bởi tình trạng “xé rào” và bị hòa tan trong các liên minh kinh tế khu vực lớn hơn ở Đông Á và Châu Á Thái Bình Dương. iệc thực hiện tự do di chuyển lao động có chuyên môn giúp các quốc gia trong khu vực duy trì và phát triển sự hợp tác kinh tế – xã hội qua đó nâng cao vị thế của ASEAN. Chính sự tăng cường hợp tác giúp ASEAN có đủ khả năng cân bằng quyền lực và đủ sức cạnh tranh với các nền kinh tế khác.

Thứ sáu, tạo áp lực để các nước ASEAN hoàn thiện thể chế, chính sách. “Chính sách này sẽ tác động khiến các quốc gia trong khối hoàn thiện hệ thống giáo dục, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế

– xã hội” [93, tr.9]. Tự do hóa di chuyển lao động có chuyên môn trước hết sẽ tác động to lớn giúp các quốc gia trong khối hoàn thiện hệ thống giáo dục, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Bởi hiện nay, có rất nhiều báo cáo chỉ ra sự chênh lệch về kiến thức và kỹ năng của nguồn nhân lực thuộc các quốc gia Đông Nam Á. Điều này là “do sự không tương thích giữa hệ thống giáo dục của các quốc gia trong khu vực” [84, tr.9].

Thứ bảy, giúp gắn kết các quốc gia thành viên trong ứng phó với những bất ổn cũng như tạo ra nguy cơ lan truyền bất ổn kinh tế – xã hội. Khi các nền kinh tế ASEAN ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, mỗi nước thành viên đều là một mắt xích trong thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất. Điều này khiến các quốc gia buộc phải nỗ lực phối hợp với nhau trong việc phòng ngừa, hợp tác đối phó với những bất ổn và suy thoái trong kinh tế. Từ đó buộc các quốc gia phải tuân thủ những chuẩn mực, quy định chung điều này giúp gắn kết các quốc gia thành viên. Nhưng mặt khác, khi thị trường lao động chung được hình thành và tác động đến nền kinh tế toàn khu vực thì nguy cơ bất ổn sẽ được lan truyền từ quốc gia này sang quốc gia khác. Sự mất ổn định về kinh tế, chính trị của một quốc gia, một khu vực sẽ có thể làm ảnh hưởng đến cuộc sống và sinh kế của nhiều người lao động ở các quốc gia khu vực khác, kéo theo nguy cơ về sự lan truyền các bất ổn xã hội.

Thứ tám, tăng cường sự lệ thuộc lẫn nhau về chính trị. Sự lệ thuộc về mặt kinh tế đi liền với sự gắn kết về mặt chính trị. iệc thực hiện các cam kết về kinh tế, trong đó cam kết di chuyển tự do lao động có chuyên môn sẽ tạo nền tảng cho sự đoàn kết, hòa bình, ổn định và hợp tác giữa các quốc gia thành viên ASEAN. Do đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lý những bất đồng trong khối thông qua con đường hòa bình

Thứ chín, các quốc gia ASEAN cũng phải đối mặt với nguy cơ về an ninh, quốc ph òng. Sự di chuyển lao động tự do có thể tạo ra những cơ hội phát triển kinh tế, gắn kết xã hội, cũng là điều kiện để những tiêu cực xã hội phát triển.

Thứ mười, nguy cơ gia tăng bất bình đẳng. Tự do di chuyển lao động được thực hiện trên danh nghĩa của quá trình hội nhập, mọi quốc gia đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ. Nhưng thực tế xuất phát điểm của quá trình hội nhập ở mỗi quốc gia khác nhau về: đặc trưng nguồn nhân lực, tiềm năng, lợi thế, kinh nghiệm… do đó mức độ bình đẳng trên thực tế có thể sẽ không đạt được. Các quốc gia sẽ  được hưởng lợi không giống nhau từ quá trình thực hiện cam kết tự do di chuyển lao động, lợi ích của chính sách này có thể được phân chia không đồng đều.