Những vấn đề đặt ra và nguyên nhân của các vấn đề trong mối quan hệ kinh tế của Trung Quốc với Châu Phi (tham khảo)

Thứ nhất, mối liên kết giữa doanh nghiệp Trung Quốc và doanh nghiệp địa phương của các nước Châu Phi thường rất yếu. Báo cáo điều tra của chính phủ Trung Quốc năm 2010 cho thấy, 5 động cơ chủ yếu của các doanh nghiệp Trung Quốc ở Châu Phi là: 1) tiếp cận thị trường địa phương; 2) cạnh tranh mạnh mẽ trên các thị trường trong nước; 3) chuyển giao năng lực sản xuất trong nước ra nước ngoài; 4) tiếp cận thị trường mới thông qua xuất khẩu; 5) tận dụng lợi thế cạnh tranh của các hiệp ước thương mại khu vực và quốc tế ở Châu Phi. Sự liên kết yếu này khiến các nước Châu Phi rất khó khai thác tối đa các tiềm năng sẵn có của mình, kể cả việc phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ và thu hút lao động bản địa làm việc trong các doanh nghiệp Trung Quốc. Ngày càng nhiều các nước Châu Phi trong thời gian gần đây đã quan tâm đến vấn đề cạnh tranh của các doanh nghiệp địa phương khi các doanh nghiệp Trung Quốc tràn ngập trên địa bàn nước mình với mối liên kết sản xuất và thương mại vô cùng yếu. Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài của Trung Quốc thường kéo theo các hoạt động xuất nhập khẩu phục vụ nhu cầu sản xuất của doanh nghiệp nói chung và mở rộng thị trường thương mại ở các nước Châu Phi nói riêng. Điều này khiến nhiều ngành công nghiệp nội địa của các nước Châu Phi bị tổn thương nặng nề. Các nước như Châu Phi càng thâm hụt thương mại lớn với Trung Quốc, càng bị tác động nặng nề hơn, trong đó phải kể đến Lesotho, Swaziland, Madagascar, Kenya, Nam Phi, Ghana – là các nước đang công nghiệp hóa.

Thứ hai, hàng hoá giá rẻ của Trung quốc đang bóp nghẹt chiến lược công nghiệp hoá của một số nước châu Phi

Một báo cáo của Ủy ban Kinh tế Châu Phi thuộc Liên Hiệp Quốc (UNECA) đã nêu bật nguy cơ: Mối quan hệ với Trung Quốc có thể bóp nghẹt những nỗ lực công nghiệp hóa của lục địa đen [27]. Với phần lớn lượng hàng xuất khẩu từ Châu Phi đến Trung Quốc là vật liệu thô, như dầu và khoáng sản. Theo Ngân hàng Phát triển Châu Phi, điều này có nghĩa là những công ăn việc làm và lợi ích từ việc xử lý vật liệu thô lại được tạo ra ở những nơi khác. Ở chiều ngược lại, làn sóng hàng hóa Trung Quốc giá rẻ ồ ạt đổ vào thị trường Châu Phi đã làm suy giảm quá trình công nghiệp hóa tại đây. Theo thống kê của Tổ chức Brenthurst (Nam Phi), chỉ tính riêng công nghiệp dệt may, Châu Phi đã mất 750.000 việc làm trong thập kỷ qua. Ngay cả tại Nam Phi, khoảng 40% sản phẩm giày dép và vải cũng được nhập khẩu từ Trung Quốc.

Thứ ba, các vấn đề nảy sinh từ các dự án đầu tư của Trung Quốc ở các nước châu Phi

Dòng nhân công đông đảo từ Trung Quốc tới Châu Phi là nguyên nhân chủ yếu làm cho người dân bản địa bất bình. Ở Angola, chỉ riêng năm 2008, đã có 17.000 lao động quốc tịch Trung Quốc làm visa vào đất nước này, cộng thêm với 38.000 lao động Trung Quốc đã vào Angola trong giai đoạn 2004-2007. Trong khi các công ty phương Tây dựa chủ yếu vào lao động địa phương, thì các công ty Trung Quốc lại mang tới 70-80% nhân công từ trong nước sang. Trong khi gần 90% công nhân làm việc cho hãng khai thác dầu Chevron của Mỹ, kể cả chuyên viên, kỹ sư và nhân viên quản lý là người Angola, thì các công ty dầu  của Trung Quốc tuyển dụng không quá 15% công nhân là người Angola và người Angola thường đứng cuối bảng lương của các công ty Trung Quốc. Ở Angola, những người Trung Quốc bán hàng rong trên đường phố đã nhanh chóng làm cho hàng nghìn thương nhân bản địa và người Malian vốn sống bằng nghề bán rong qua nhiều thế hệ bị mất đất kinh doanh. Người Trung Quốc thích sống biệt lập và không có quan hệ với dân địa phương càng làm cho người dân bản địa thêm ghẻ lạnh. Trung Quốc được coi là nhân tố cơ bản gây nên thảm hoạ môi trường ở một số nước như Mozambich, Sudan, Guinea xích đạo…Ở Sudan, người dân địa phương đã tấn công vào đội khai thác dầu Trung Quốc, giết chết đội trưởng, vì họ cho rằng công trình của người Trung Quốc đã làm ô nhiễm mảnh đất của họ. Công nhân Trung Quốc cũng đã bị giết hại ở Ethiopia và Guinea xích đạo. Ở Nigeria, người dân địa phương đã biểu tình, đuổi các công ty Trung Quốc ra khỏi vùng đồng bằng Niger giàu dầu mỏ của họ [24].

Trung Quốc đầu tư vào các nước Châu Phi là để khai thác tài nguyên và mang theo rất đông công nhân sang, đồng nghĩa với việc Trung Quốc không tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động các nước bản xứ. Hơn nữa, tiền công mà các doanh nghiệp Trung Quốc trả cho lao động bản xứ rất thấp, chẳng hạn lao động người Ghana làm việc ở đập thủy điện Bui chỉ được trả 3 USD/ngày cho 9-10 tiếng làm việc. Ở mỏ đồng Chambeshi, 2000 lao động người Zambia chỉ được trả 14 USD/tháng [48]. Ngoài ra, ở hầu hết các nhà máy do Trung Quốc xây dựng, các điều kiện về tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh và bảo vệ sức khỏe người lao động còn rất kém, có nơi không có.

Như vậy, bên cạnh các kết quả mà Châu Phi nhận được về phát triển nguồn nhân lực, đưa nhiều bác sĩ đến Châu Phi để chữa bệnh cho người dân địa phương, gửi giáo viên đến đây để nâng cao dân trí, đồng thời cung cấp học bổng cho hàng ngàn sinh viên Châu Phi theo học tại Trung Quốc, thì việc đưa người Trung Quốc sang Châu Phi làm việc trong các dự án đầu tư và xuất nhập khẩu đã cho thấy một làn sóng di dân kiểu mới của Trung Quốc sang làm ăn và sinh sống ở các nước Châu Phi.

Cái giá của Châu Phi phải trả đó là tài nguyên đang bị Trung Quốc khai thác bừa bãi và không đem lại động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho các nước Châu Phi bởi hầu hết các nguồn tài nguyên này đều được xuất khẩu trở lại về Trung Quốc. Một vài năm gần đây một số nước Châu Phi đã cáo buộc Trung Quốc chỉ tập trung vào việc khai thác tài nguyên chứ không giúp tạo công ăn việc làm và thị trường tại các nước này. Đồng thời nhiều dự án được đưa vào đây cũng là nhằm phục vụ ý đồ của Trung Quốc khai thác nhân công giá rẻ, đối xử bất công với người dân địa phương.

Thứ tư, Trung Quốc đang bị “đổ lỗi” về sự tiếp tay cho tham nhũng và mất ổn định ở châu Phi

Để tiếp cận được các nguồn tài nguyên Châu Phi, Trung Quốc đã hỗ trợ và ủng hộ chính quyền tham nhũng ở một số nước Châu Phi, như hỗ trợ và ủng hộ tổng thống Angola Jose Eduardo dos Santos – người đã cầm quyền hơn 30 năm ở Angola; hoặc tổng thống Robert Mugabe của Zimbabwe – người đã cầm quyền gần 30 năm hoặc chủ tịch CHDC Congo Joseph Kabila – người nắm quyền trên 10 năm. Nhiều báo cáo khác nhau đã cho rằng, chính phủ Trung  Quốc đã không yêu cầu các chính phủ các nước Châu Phi phải báo cáo tính minh bạch trước khi nhận viện trợ, đồng thời cũng không yêu cầu chính phủ các nước này phải thực hiện dân chủ hóa như các nước phương Tây thường áp đặt. Chính vì vậy, các khoản viện trợ của Trung Quốc thường đi kèm theo sự tư túi của các nhà cầm quyền một số nước Châu Phi. Mặc dù không có những số liệu điều tra ảnh hưởng của Trung Quốc đối với tham nhũng ở Châu Phi, nhưng một điều hiển nhiên là hầu hết các nước đang nhận viện trợ lớn nhất của Trung Quốc là những nước tham nhũng nhất Châu Phi. Trong số 10 nước tham nhũng nhất Châu Phi năm 2015 do Tổ chức minh bạch quốc tế xếp hạng, có mặt các nước đang nhận viện trợ lớn nhất của Trung Quốc, đó là: Sudan (đứng thứ 2), Angola (đứng thứ 6), Zimbabwe (đứng thứ 9)…

Mô hình Đồng thuận Bắc Kinh khác với Đồng thuận Washington ở nhiều khía cạnh. Nếu như Đồng thuận Washington yêu cầu các nước đang phát triển phải thực hiện triệt để cải cách kinh tế nếu muốn nhận sự tài trợ tài chính khi có khủng hoảng kinh tế, trong đó nhấn mạnh sở hữu tư nhân, mở cửa kinh tế, tự do hoá hệ thống tài chính, ổn định vĩ mô, và tự do hoá chính trị là cốt yếu để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; nói cách khác nhà nước can thiệp ở mức ít nhất có thể vào nền kinh tế…; thì Đồng thuận Bắc Kinh lại nhấn mạnh vai trò chủ động của nhà nước; nhấn mạnh đến chiến lược tăng trưởng “phi chính thống”; nhấn mạnh vai trò của nhà nước hơn là vai trò hàng đầu của thị trường; vai trò của sở hữu nhà nước, sở hữu hỗn hợp; thử nghiệm các định chế khác nhau. Vì vậy, các nước nhận viện trợ của Trung Quốc và tuân thủ theo đồng thuận Bắc Kinh đã rất khó khăn trong việc thực hiện các cam kết giảm nợ của các tổ chức quốc tế khác. Ví dụ, khi Trung Quốc viện trợ cho CHDC Congo năm 2007, với cam kết viện trợ tài chính 9 tỷ USD để phát triển cơ sở hạ tầng và phục hồi ngành khai khoáng, thì một liên doanh – Siomines – ra đời: CHDC Congo nắm 32% vốn. Hai doanh nghiệp lớn, China Railway Engineering Corporation và Synohydro Corporation, là đơn vị xây dựng hoặc phục hồi 3.000 km đường bộ và đường ray; 31 bệnh viện 150 giường, 145 trung tâm y tế, 4 trường đại học và hàng chục nghìn ngôi nhà. Những khoản nợ thương mại này cũng dọn đường cho viện trợ phát triển của Trung Quốc với lãi suất rất thấp trong một khoảng thời gian dài. Nhiều người hy vọng rằng, các dự án trên sẽ giúp phục hồi nền kinh tế èo uột của CHDC Congo. Đổi lại, Trung Quốc sẽ được tiếp cận 10 triệu tấn khoáng sản: 6,5 triệu tấn đồng nguyên chất, 200.000 tấn coban và 372 tấn vàng. Đây là một thỏa thuận trao đổi mang lại lợi ích cho cả hai phía. Tuy nhiên, Trung Quốc sẽ không phải trả cho đến khi nào họ kiếm đủ lợi nhuận: các dự án cơ sở hạ tầng sẽ lấy ngân sách từ khai mỏ, với tỷ lệ lại quả được ấn định ở mức 19% (tự phía Trung Quốc đánh giá). Nếu không đạt được tỷ lệ này, người Trung Quốc sẽ đòi hỏi các nhượng bộ khác. Tuy nhiên, một lượng tiền khổng lồ được trả và sau đó bị các quan chức biển thủ, khiến cho ngân sách quốc gia chỉ được hưởng 6% từ khoản viện trợ này. Cùng với đó, CHDC Congo đã phải đối mặt với các thất bại về đàm phán nợ. Khi Tổng thống Kabila lên nắm quyền vào năm 2002, Congo nợ Câu lạc bộ Paris 10 tỷ USD, gần 90% trong số này là tiền lãi cộng dồn kể từ khi thỏa thuận vay cuối cùng được ký kết năm 1989. Ngoài ra, còn rất nhiều khoản nợ khác CHDC Congo đang nợ IMF, Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển Châu Phi. Theo IMF, nợ công của CHDC Congo chiếm 93% GDP và chiếm 502% doanh thu của chính phủ năm 2009.

Mặc dù không thể phủ nhận xu thế trỗi dậy của Trung Quốc, trong thời gian gần đây hoạt động của nước này ở Châu Phi bắt đầu bị phê phán nhiều. Nước này bị chỉ trích vì mối quan hệ gần gũi với một số chính phủ mà người đứng đầu bị phương Tây coi là “tội phạm” ở Châu Phi. Đầu tiên, người ta cho rằng Trung Quốc làm suy yếu nền dân chủ và quản trị tốt bởi việc hợp tác với các nhà độc tài và chế độ đàn áp như ở Zimbabwe dưới chế độ của Tổng thống Robert Mugabe. Trung Quốc cũng bị cáo buộc là đã làm tăng nạn tham nhũng khi các doanh nghiệp nước này tìm kiếm những dự án đầu tư thông qua hối lộ. Hoạt động của các doanh nghiệp Trung Quốc trên thị trường ở Châu Phi cũng gây nên nhiều phản ứng. Các sản phẩm Trung Quốc giá rẻ gây ảnh hưởng đáng kể đến nền sản xuất và các sản phẩm bản địa. Do đó, trong một số lĩnh vực, nhiều quốc gia Châu Phi đã hạn chế khả năng Trung Quốc có thể tiếp cận thị trường. Trên thị trường lao động, các doanh nghiệp Trung Quốc thường cắt giảm mức lương của người lao động xuống thấp hơn nhiều mức tiền lương tối thiểu đã được quy định hoặc mức tiền công cơ bản. Điều này thể hiện rõ ở những quốc gia có hệ thống luật pháp tương đối hoàn thiện như Nam Phi. Đồng thời, các doanh nghiệp Trung Quốc cũng không mấy quan tâm đến việc bảo vệ môi trường. Việc mua gỗ, đồng, bạch kim và các khoáng chất khác của các công ty Trung Quốc đã gây ra thiệt hại đáng kể đối với môi trường sinh thái.

Sự phản kháng của chính người dân bản địa Châu Phi trước sự hiện diện ngày càng đông, lâu dài và gây nhiều rắc rối của người Trung Quốc đang ngày càng mạnh mẽ hơn. Sau một thời gian có sự hiện diện của người Trung quốc, người dân Châu Phi mới dần cảm nhận rõ ràng rằng họ và người Trung Quốc không phải cùng chung cảnh ngộ. Việc các chính phủ Châu Phi bán và cho Trung Quốc thuê đất làm trang trại, hay việc Trung Quốc cho các nước Châu Phi vay vốn với lãi suất thấp song lại kèm theo điều kiện là nước sở tại phải thuê công nhân Trung Quốc làm việc tại các dự án do Trung Quốc tài trợ, đầu tư thực chất vẫn nhằm mang lại lợi nhuận cho Trung Quốc: tiền các ngân hàng Trung Quốc đi qua các nhà thầu Trung Quốc cuối cùng lại quay trở về với ngân hàng Trung Quốc tạo ra một vòng tròn khép kín không có chỗ cho người dân nước  chủ nhà xen vào, trừ khoản tiền công nhỏ nhoi trả cho lao động địa phương hay mua các vật liệu địa phương. Hơn nữa, Trung Quốc còn ồ ạt đưa hàng hóa giá rẻ vào Châu Phi, “bóp chết” một số ngành công nghiệp địa phương như đã từng xảy ra đối với ngành dệt may của Nam Phi.

Tại Angola, các xưởng may Trung Quốc là nguyên nhân gây mất việc cho hàng chục ngàn lao động địa phương trong ngành dệt may. Trung Quốc cũng chỉ sử dụng lao động từ nước mình để làm việc trong các dự án đầu tư lớn của Trung Quốc như xây dựng những tuyến đường xe lửa chạy dọc Angola đến các khu mỏ sắt xa xôi và các mỏ dầu tại Vịnh Guinea. Rõ ràng ngày càng có nhiều người dân Châu Phi không hoàn toàn tán đồng với việc người Trung Quốc kéo sang Châu Phi ngày càng đông để làm việc và định cư. Thậm chí, họ còn nhận thấy nhiều binh lính “gìn giữ hoà bình” Trung Quốc đến đây dưới danh nghĩa thực hiện nhiệm vụ của Liên hợp quốc, nhưng trên thực tế là những người gìn giữ các trang trại, công trường và các dự án khai thác tài nguyên thiên nhiên của Trung Quốc tại Châu Phi. Một số cuộc phản kháng, xô xát của người Châu Phi chống người Trung Quốc như đã diễn ra tại Angiêri phản ánh sự bất bình của người dân Angiêri nói riêng, người Châu Phi nói chung, đối với chính sách“mở rộng không gian sinh tồn” của Trung Quốc.

Chiến lược “viện trợ lấy dầu” (aid-for-oil) đã và đang vấp phải sự cảnh giác và phản ứng của dân chúng Châu Phi. Một mặt giới cầm quyền Trung Quốc tuyên truyền không mệt mỏi chính sách “không can thiệp” của mình như một  con tem bảo hành trong quan hệ đối tác với Châu Phi. Mặt khác, nước này vẫn xây dựng mối quan hệ gắn bó và hỗ trợ cho các nhà lãnh đạo độc tài tại khu vực này nhằm đạt được những mục tiêu riêng của mình. Điều này khiến cho hình ảnh của Trung Quốc trong mắt những người dân Châu Phi không khác gì đồng minh thân cận của chính quyền. Sự hiện diện của Trung Quốc do vậy bị coi là những ông chủ thực dân kiểu mới tiếp tay cho chính phủ tham nhũng để bòn rút tài nguyên quốc gia. Sự phản đối của dân chúng Châu Phi ngày càng tăng mạnh và đã có những hành động tấn công nhằm vào các công ty Trung Quốc. Tháng 8/2012, các công nhân mỏ ở Zambia nổi dậy, giết một quản lý người Trung  Quốc và làm bị thương nhiều người khác. Tại Nigeria, năm 2013 đã chứng kiến nhiều mâu thuẫn giữa chính quyền quốc gia sở tại và các công ty Trung Quốc.

Châu Phi bắt đầu cáo buộc Trung Quốc chỉ tập trung vào việc khai thác tài nguyên mà không giúp tạo công ăn việc làm cho nhân dân sở tại, lợi dụng nhân công giá rẻ để bóc lột dân địa phương. Các công ty khai thác tài nguyên của Trung Quốc cũng thường mang rất đông công nhân sang, tổ chức ăn uống, sinh hoạt riêng, không tạo điều kiện để dân chúng sở tại có thể kiếm được lợi nhuận. Sau khi khai thác tài nguyên mang về nước, Trung Quốc cũng không chuyển giao công nghệ vì thế không mang lại giá trị gia tăng cho chính quyền địa phương. Bên cạnh đó, các dự án khai thác khoáng sản đã tàn phá nặng nề hệ sinh thái và môi trường tại Châu Phi. Các mỏ đồng ở Zambia khiến môi trường ô nhiễm nghiêm trọng, dự án xây đập thủy điện khai thác Kongou tại Gabon của Trung Quốc có nguy cơ ảnh hưởng tiêu cực tới công viên quốc gia Ivindo. Ngoài ra, nhiều khu rừng tại Châu Phi cũng bị hủy hoại để khai thác lấy gỗ.

Trong thời gian gần đây, một số chính phủ Châu Phi cũng đã có những điều chính chính sách trong quan hệ thương mại-đầu tư với Trung Quốc, trong đó gồm nhiều biện pháp nhằm hạn chế, khắc phục tác động tiêu cực từ nhiều dự án đầu tư của Trung Quốc đã được triển khai theo các thỏa thuận đã ký. Tại Botswana, sau khi chứng kiến sự chậm trễ trong việc triển khai các dự án xây dựng, chính phủ của Tổng thống Ian Khama đã khẳng định chính sách sẽ hết sức thận trọng trong việc sử dụng các công ty có nguồn gốc Trung Quốc để triển khai bất cứ một dự án xây dựng nào [80]. Tại Namibia, chính phủ và  các  phong trào xã hội dân sự cũng yêu cầu doanh nghiệp  Trung Quốc phải đảm  bảo tốt hơn điều kiện sức khỏe cho công nhân làm việc tại các mỏ khai thác khoáng sản.

Bên cạnh đó, ngày càng có nhiều chỉ trích rằng, các công ty Trung Quốc thường không cung cấp và chuyển giao các công nghệ tiên tiến, mà chủ yếu cung cấp những công nghệ lạc hậu, nhưng giải thích đó là “công nghệ phù hợp” đối với Châu Phi. Điều này đang ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo vệ môi trường cũng như khả năng hiện đại hóa nền kinh tế của nhiều nước. Ngoài ra, có nhiều ý kiến lo ngại rằng, các công ty quốc doanh của Trung Quốc đang đang tìm cách nắm quyền kiểm soát hoặc sở hữu ngành năng lượng của Châu Phi. Các chính trị gia ở một số quốc gia như Nam Phi thậm chí bắt đầu chiến dịch chống lại các thế lực có sự tham gia của Trung Quốc và nhấn mạnh rằng, các đối tác bản địa cần có quyền kiểm soát nhiều hơn trong quá trình thương lượng. Các quốc gia Châu Phi đang phải đối mặt với một sự lựa chọn chiến lược: hoặc hợp tác với Trung Quốc với có một cách tiếp cận kinh doanh chủ động; hoặc thương lượng lại với phương Tây – người chắc chắn sẽ tiếp tục đặt những điều kiện tiên quyết đối với viện trợ. Thực tế chỉ ra rằng, sử dụng vốn viện trợ, vốn vay hiệu quả hay không chủ yếu là do chính quyền sở tại chứ không phải do bên cho vay.

Hơn nữa, Trung Quốc phải trả giá khi tự tìm tới các nước có chế độ chính trị bất ổn hoặc những nền kinh tế luôn gặp khó khăn trong việc trả nợ như Yemen, Syria, Sierra Leone, Zimbabwe và một số nước khác ở Bắc Phi. Tháng 1/2007, 9 công nhân Trung Quốc đã bị bắt cóc tại Nam Nigeria; tháng 6/2007, chi nhánh Ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc Shandong Qingrun đã bị cướp tại Togo; 9 công nhân Công ty Dầu khí Quốc gia Trung Quốc đã bị bắt cóc vào tháng 10/2008 tại Sudan trong đó 05 người bị giết chết; tháng 12/2012, dự án xây dựng thủy điện của Trung Quốc tại Sudan đã bị nhóm phiến quân chống chính phủ Sudan là Phong trào giải phóng nhân dân Sudan tấn công. Tại Libya, bạo loạn kéo dài từ năm 2010 đến nay đã làm cho khoảng 30 cơ sở đầu tư và doanh nghiệp của Trung Quốc bị tấn công, hàng loạt xe cộ, máy móc bị đốt  cháy, cơ sở khai thác dầu bị phá hủy, tài sản bị đánh cắp, gây thiệt hại lớn về kinh tế và đe dọa tính mạng con người. Trong số những cơ sở của Trung Quốc bị cướp phá có Tập đoàn dầu khí nhà nước Trung Quốc (CNPC), Tập đoàn Xây dựng đường sắt Trung Quốc (CRCC) – một tập đoàn đã đầu tư tới 5,2 tỷ USD tại Libya. Trung Quốc đã rất khó khăn lo bảo vệ cho khoảng 36.000 công dân nước này đang làm việc tại 50 dự án lớn, chủ yếu trong các lĩnh vực dầu mỏ, đường sắt và viễn thông ở Libya. Rõ ràng ngày càng có nhiều người dân Châu Phi không hoàn toàn tán đồng với việc người Trung Quốc kéo sang Châu Phi ngày càng đông để làm việc và định cư. Một số cuộc phản kháng, xô xát của người Châu Phi chống người Trung Quốc như đã diễn ra tại Algeria phản ánh sự bất bình của người Châu Phi nói chung, đối với chính sách“mở rộng không gian sinh tồn” của Trung Quốc.