Những yếu tố cơ bản tác động đến quá trình phát triển nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bến Tre

Quá trình phát triển NLCN ở Bến Tre đang diễn ra dưới tác động nhiều chiều của nhiều yếu tố cả khách quan lẫn chủ quan. Việc nhận rõ sự tác động của các yếu tố này là cơ sở để xây dựng phương hướng, giải pháp nhằm phát triển NLCN ở Bến Tre đúng hướng, để bảo đảm thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH ở tỉnh Bến Tre.

Thứ nhất, quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH ở tỉnh vừa thúc đẩy, vừa đòi hỏi phải nhanh chóng phát triển nguồn lực con người để đáp ứng yêu cầu của quá trình này

Thực chất của CNH, HĐH ở Bến Tre là quá trình cải biến một cách căn bản nền kinh tế cũ, lạc hậu, dựa trên lao động thủ công, năng suất lao động thấp sang nền kinh tế hiện đại, năng suất lao động và tổng sản phẩm xã hội tăng cao. Vì thế, đẩy mạnh CNH, HĐH chính là quá trình từng bước tạo ra tiền đề, điều kiện vật chất cần thiết để người lao động có cơ hội thuận lợi được tiếp cận những dịch vụ ngày càng hoàn thiện về giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe tạo nhiều việc làm và nâng cao mức sống… Với ý nghĩa đó, CNH, HĐH tạo điều kiện thúc đẩy quá trình phát triển NLCN, đặc biệt là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quá trình đó, CNH, HĐH đặt ra những yêu cầu cao và mới đối với lực lượng lao động về trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng lao động, khả năng thích nghi với phương thức lao động mới… Đáp ứng những yêu cầu đó, người lao động – với tư cách là lực lượng sản xuất hàng đầu trong nền kinh tế hiện đại – phải không ngừng học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn tay nghề và cả nhân cách đạo đức, năng lực tư duy sáng tạo. Có thể nói, quá trình CNH, HĐH khách quan tạo ra môi trường và điều kiện, mà ở đó người lao động phải luôn tự đổi mới không ngừng, tự đào tạo, bồi dưỡng về mọi mặt. Như vậy, CNH, HĐH là yếu tố tác động mạnh mẽ đến NLCN và là “đòn bẩy” trực tiếp thúc đẩy NLCN phát triển, đồng thời đặt ra những yêu cầu mới để người lao động không ngừng phấn đấu. Đến lượt nó, NLCN phát triển cao về số lượng và chất lượng lại là động lực mạnh mẽ đẩy nhanh tiến trình CNH, HĐH.

Bên cạnh thúc đẩy quá trình đào tạo ra một lớp người lao động mới có năng lực và phẩm chất ngày càng cao đáp ứng yêu cầu chuyển đổi cơ cấu lao động, trong quá trình CNH, HĐH, một bộ phận không nhỏ trong lực lượng lao động, chủ yếu ở nông thôn, vốn quen với tác phong lao động nông nghiệp, thiếu năng động sáng tạo, chậm đổi mới… sẽ là nhóm đối tượng dễ bị gạt ra ngoài quá trình CNH, HĐH nền sản xuất; không ít người lao động khó làm quen với cường độ và nhịp độ nhanh chóng của lao động công nghiệp; nhiều người lao động trình độ thấp dễ bị gạt ra khỏi guồng máy sản xuất. Tình trạng người lao động phải bỏ việc sau thời gian thử việc tại các khu công nghiệp, nhà máy… là một thực tế phản ánh điều đó. Mặt khác, việc ứng dụng nhanh những thành tựu KH-CN vào sản xuất, vào quản lý kinh tế-xã hội cũng làm cho người lao động nhanh chóng bị lạc hậu, tụt lại phía sau, nếu họ không tự nỗ lực học tập, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao tay nghề.

Như vậy, tác động của CNH, HĐH đến quá trình phát triển NLCN ở Bến Tre có cả mặt tích cực lẫn hạn chế. Trên thực tế, CNH, HĐH ở Bến Tre chưa đủ mạnh để thúc đẩy nhanh sự ra đời một đội ngũ trí thức, các nhà kinh doanh, nhà quản lý, chuyên gia công nghệ và công nhân lành nghề, đủ sức tạo ra động lực đưa Bến Tre phát triển vượt bậc. Mặt khác, phần lớn lực lượng lao động của tỉnh chưa qua đào tạo, chưa được trang bị đủ những năng lực và phẩm chất để hội nhập vào xu thế chuyển đổi nền kinh tế theo hướng HĐH. Đây là lực cản lớn trong quá trình CNH, HĐH và tiến trình phát triển của Bến Tre hiện nay. Vì vậy, để thúc đẩy phát triển NLCN, một mặt Bến Tre cần phải đẩy mạnh hơn nữa quá trình CNH, HĐH để làm xuất hiện nhu cầu phát triển về số lượng và nâng cao về chất lượng nguồn nhân lực, mặt khác cần có kế hoạch và tập trung mọi nguồn lực gấp rút:

Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực theo diện rộng để đáp ứng yêu cầu, đồng thời lựa chọn, đào tạo nhân tài để có khả năng tiếp thu những công nghệ hiện đại, tập trung trước hết vào xây dựng đội ngũ các nhà kinh doanh giỏi, công nhân lành nghề, đội ngũ công chức, hành chính thạo việc, công tâm [22, tr.56].

Thứ hai, sự tác động của cơ chế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế đến quá trình phát triển NLCN ở tỉnh Bến Tre

Cùng với quá trình CNH, HĐH, cơ chế thị trường đã có những tác động không nhỏ đến quá trình phát triển NLCN ở Bến Tre.

Trước hết, cơ chế thị trường tạo ra những cơ hội thuận lợi cho con người phát triển. Dưới tác động của cơ chế thị trường, những quan niệm, thói quen, tâm lý cũ gắn liền với nền sản xuất tự cấp, tự túc của con người sẽ dần dần được thay đổi. Thay vào đó, tính năng động, tư duy sáng tạo được khơi dậy và phát huy; năng lực, tài năng của mỗi người có cơ hội được thể hiện và khẳng định; cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh được đặt ra. Trong môi trường đó, đòi hỏi người lao động phải tự vươn lên không ngừng, tự nâng cao trình độ mọi mặt như tri thức, kỹ năng tay nghề, khả năng thích nghi, tính kỷ luật, phẩm chất đạo đức… Nói cách khác, cơ chế thị trường đặt ra nhu cầu tự đào tạo, bồi dưỡng của chính người lao động vì lợi ích thiết thân của họ. Thực tế cho thấy, sự vươn lên của hàng chục ngàn nông dân từ nghèo khó trở thành những triệu phú, tỷ phú miệt vườn ở Bến Tre đã chứng minh rằng cơ chế thị trường tạo ra cơ hội làm giàu chính đáng cho những ai năng động sáng tạo, quyết chí vươn lên, chịu khó học hỏi, chăm chỉ lao động. Năm 2004 toàn tỉnh có 21.018 nông dân sản xuất kinh doanh giỏi các cấp, trong đó có 260 nông dân giỏi cấp tỉnh và 10 nông dân giỏi cấp trung ương với các mô hình nuôi thuỷ sản, trồng cây ăn trái, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp… [64, tr.5].

Trong nền kinh tế thị trường, thị trường lao động ở Bến Tre từng bước hình thành và phát triển. Quan hệ giữa cung và cầu lao động góp phần tạo ra sự cân đối về nhu cầu và đào tạo nguồn nhân lực, từng bước đáp ứng về cơ cấu lao động theo các cấp và các trình độ, về cơ cấu theo ngành nghề, khu vực sản xuất. Ngoài ra, nó còn tạo ra sự dịch chuyển lao động từ khu vực nông thôn, vùng sâu có thu nhập thấp sang khu vực thành thị có thu nhập cao hơn; từ thành phần kinh tế này sang các thành phần kinh tế khác, mà chủ yếu hướng vào các khu công nghiệp, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Chỉ trong vòng 4 năm (từ năm 2000 đến năm 2004) số lao động trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng vọt gần 30 lần. Nếu năm 2000 chỉ có 24 người thì đến năm 2004 tăng lên 715 người [13]. Như vậy, sự hình thành và phát triển của thị trường lao động đã góp phần đánh thức tiềm năng lao động to lớn của NLCN ở tỉnh Bến Tre.

Bên cạnh đó, mặt trái của thị trường lao động cũng gây không ít khó khăn cho việc quản lý, sử dụng NLCN, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh. Biểu hiện rõ ở tính tự phát trong đào tạo, sử dụng người lao động. Ở Bến Tre, trong nhiều năm qua, việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực bị “thả nổi”, không được quy hoạch và thống nhất quản lý, chưa gắn đào tạo với sử dụng, gây mất cân đối giữa các bậc và các ngành đào tạo. Do đó, tình trạng học sinh, sinh viên tốt nghiệp không tìm được việc làm ở tỉnh hoặc phải làm công việc không được đào tạo, gây lãng phí chất xám rất lớn. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức, trí thức khoa học- công nghệ có năng lực, sinh viên Bến Tre… có xu hướng chuyển đến những thành phố lớn để có điều kiện phát triển và thu nhập cao. Tình hình trên gây không ít khó khăn cho công tác quản lý, đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực, ảnh hưởng đến chất lượng NLCN của tỉnh trong nhiều năm qua.

Cùng với cơ chế thị trường, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng có những tác động đến quá trình phát triển NLCN ở tỉnh Bến Tre.

Về mặt tích cực, trong quá trình mở rộng giao lưu, hợp tác, trao đổi hàng hóa, vốn, công nghệ mới… với các nước trên thế giới, Bến Tre có điều kiện khai thác những lợi thế sẵn có, trong đó có tiềm năng to lớn của lực lượng lao động.

Hiện nay, tỉnh Bến Tre đang đẩy mạnh thu hút đầu tư từ nhiều nguồn, đặc biệt là đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực là thế mạnh kinh tế của tỉnh. Qua đó, NLCN ở Bến Tre có điều kiện và cơ hội phát triển. Thứ nhất, việc mở rộng và phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập cho lực lượng lao động ở Bến Tre, góp phần tạo sự ổn định về mặt xã hội. Thứ hai, khi công nghệ mới được trang bị vào sản xuất, một mặt góp phần hiện đại hóa nền kinh tế, tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH. Mặt khác, cơ cấu lao động cũng biến đổi, một bộ phận lao động ở khu vực nông nghiệp chưa qua đào tạo sẽ dần chuyển sang lao động trong khu vực dịch vụ, công nghiệp với yêu cầu trình độ tay nghề ngày càng cao. Thứ ba, trong quá trình lao động, để thích ứng với công nghệ sản xuất hiện đại, người lao động phải luôn học hỏi nâng cao trình độ tay nghề, có ý thức kỷ luật trong lao động, rèn luyện tác phong công nghiệp… xoá dần được lối trì trệ, tự do vô kỷ luật trong lao động. Thứ tư, để mở rộng, trao đổi hàng hóa, đòi hỏi sản phẩm của Bến Tre phải có sức cạnh tranh cao mới có thể thâm nhập sâu vào thị trường thế giới. Muốn nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa, ngoài việc đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất, điều quan trọng nhất là phải đào tạo đội ngũ lao động có trình độ cao, có khả năng làm chủ công nghệ mới, sáng tạo và ứng dụng thành tựu khoa học tiên tiến, để cải tiến kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Thứ năm, thông qua hội nhập kinh tế quốc tế còn tạo ra sự gắn kết giữa thị trường lao động trong tỉnh với thị trường lao động trong khu vực và trên thế giới. Vài năm gần đây, xuất khẩu lao động đã trở thành địa chỉ tin cậy và thu hút sự quan tâm của nhiều người lao động ở Bến Tre. Số người đi lao động ở nước ngoài ngày càng nhiều, năm 2003 chỉ có 480 người, năm 2004 có 971 người. Xuất khẩu lao động không chỉ mở ra khả năng cạnh tranh cho người lao động mà còn tạo cơ hội cho họ tiếp cận với KH-CN tiên tiến của thế giới, nâng cao trình độ tay nghề, từ đó, góp phần chuẩn bị đội ngũ lao động thích ứng với nền sản xuất lớn XHCN.

Việc “mở cửa” giao lưu, hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ có tác động tích cực đến quá trình phát triển NLCN của Bến Tre mà còn có những tác động tiêu cực. Cùng với việc mở cửa hội nhập kinh tế thì những yếu tố văn hóa, lối sống “phương Tây” cũng du nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống xã hội, làm “biến đổi” đạo đức, lối sống của một phận không nhỏ người lao động. Xu hướng đề cao văn hóa ngoại lai, chạy theo lối sống “hiện đại”, hạ thấp hoặc phủ nhận những giá trị đạo đức, truyền thống văn hóa dân tộc có chiều hướng gia tăng, nhất là trong tầng lớp thanh, thiếu niên – lực lượng lao động chủ yếu và đông đảo trong xã hội. Lối sống thực dụng, hưởng thụ, đề cao chủ nghĩa cá nhân, lạnh lùng chà đạp lên lợi ích người khác… trở nên phổ biến ở nhiều người. Chẳng hạn hội chứng “lấy chồng Đài Loan” đang lan rộng đến nhiều vùng nông thôn ở Bến Tre và các tỉnh khu vực ĐBSCL. Trong năm 2001, ở Bến Tre có 203 cuộc hôn nhân với người nước ngoài, trong đó trên 70% kết hôn với người Đài Loan. Có thể nói, phần lớn những cuộc hôn nhân này bất chấp thành phần, nghề nghiệp, tuổi tác trên cơ sở tính toán đổi trao. Hậu quả là rất nhiều cô gái trong những cuộc hôn nhân đó không hề có hạnh phúc, thậm chí có những người bị đẩy vào bước đường cùng trở thành gái mại dâm. Đây là lối sống hoàn toàn xa lạ với những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Thứ ba, hệ thống giáo dục – đào tạo tỉnh Bến Tre là nhân tố trực tiếp tác động đến quá trình phát triển NLCN của tỉnh

Để phát triển nguồn nhân lực, GD-ĐT được xem là con đường cơ bản nhất, vừa có tính lâu dài, vừa có tính đột phá nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nên và tăng cường năng lực nội sinh để đẩy mạnh CNH, HĐH.

Thực hiện nhiệm vụ “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”, ngành GD-ĐT Bến Tre góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng NLCN, tạo động lực phát triển kinh tế-xã hội. Hiện nay, về cơ bản, Bến Tre đã hoàn thành chỉ tiêu xóa nạn mù chữ, phổ cập tiểu học và đang triển khai thực hiện phổ cập THCS (dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2006). Không chỉ coi trọng việc nâng cao trình độ học vấn cho nguồn nhân lực của mình, những năm gần đây, tỉnh rất chú trọng công tác đào tạo nghề cho lực lượng lao động, xem đây là bước đột phá, hình thành nên động lực mới về nguồn nhân lực, góp phần làm biến đổi về chất đối với sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội, nhằm đạt mục tiêu chung là khắc phục sự tụt hậu về kinh tế. Sự phát triển khá mạnh và đồng bộ hệ thống GD-ĐT của tỉnh đã góp phần quan trọng tạo nên sự chuyển biến về số lượng và chất lượng NLCN của Bến Tre trong những năm gần đây.

Tuy nhiên, trong tình hình chung của ngành Giáo dục cả nước, GD-ĐT tỉnh Bến Tre vẫn còn nhiều bất cập, yếu kém và hạn chế. Chất lượng và hiệu quả GD-ĐT còn thấp so với yêu cầu phát triển và chưa đáp ứng nhu cầu lao động của các ngành, nghề ở địa phương và thị trường lao động.  Hiện chưa có đánh giá cụ thể về hiệu quả đào tạo của các cơ sở dạy nghề trong tỉnh. Tuy nhiên, qua kết quả Hội chợ việc làm – xuất khẩu lao động tỉnh Bến Tre lần thứ I (từ 29 đến 31/8/2003) cho thấy, trong 8.252 hồ sơ đăng ký xin việc, sơ tuyển được 670 lao động (chiếm 8,12%), tuyển dụng chính thức được 156 lao động (chiếm 1,9%) [59]. Con số này phần nào nói lên chất lượng của lực lượng lao động ở Bến Tre chưa đáp ứng yêu cầu thị trường lao động, vì vậy, cơ hội tìm việc làm của họ bị hạn chế.

Việc mở rộng và đa dạng hóa các loại hình đào tạo, nhất là mô hình liên kết đào tạo tại chức, nhằm đáp ứng yêu cầu học tập, nâng cao trình độ cho người lao động là rất cần thiết. Nhưng do sự yếu kém của công tác quản lý và tác động bởi mặt trái của cơ chế thị trường đã dẫn đến tình trạng khó kiểm soát về mặt chất lượng đào tạo. Kết quả là không ít người đã qua đào tạo có bằng cấp, nhưng trình độ và khả năng thực tế không tương xứng, không đáp ứng được yêu cầu của quá trình lao động sản xuất. Tình trạng “học giả, bằng thật” không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, mà còn tác động xấu đến nhân cách của người lao động. Đây là điều đáng lo ngại nhất trong chất lượng GD-ĐT hiện nay ở nước ta nói chung, ở Bến Tre nói riêng.

Ngoài ra, sự mất cân đối trong cơ cấu ngành nghề đào tạo và hình thức đào tạo (dài hạn, ngắn hạn) cũng ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng và chất lượng nguồn lao động của tỉnh. Hiện nay, phần lớn học sinh, sinh viên của tỉnh tập trung ở các ngành: kinh tế tài chính, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, luật, sư phạm… Các ngành phục vụ trực tiếp cho phát triển kinh tế địa phương như nông học, thuỷ sản số sinh viên theo học rất ít. Công tác đào tạo nghề ở tỉnh chủ yếu là đào tạo ngắn hạn hoặc bồi dưỡng dưới nhiều hình thức, chất lượng chưa cao. Đào tạo dài hạn còn ít (chủ yếu là liên kết đào tạo), chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho CNH, HĐH. Đây là một trong những vấn đề gây khó khăn cho công tác giải quyết việc làm hiện nay, bởi trình độ người lao động không đáp ứng yêu cầu tuyển dụng. Tới đây, khó khăn này sẽ càng gay gắt khi mà các khu công nghiệp được hình thành, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp – dịch vụ, các ngành công nghiệp, xây dựng có nhu cầu lớn về công nhân kỹ thuật có trình độ tay nghề cao. Do vậy, khả năng thiếu lao động lành nghề sẽ xảy ra và trở thành áp lực lớn cho ngành GD-ĐT của tỉnh trong những năm tới.

Tóm lại, GD-ĐT là yếu tố cơ bản tác động trực tiếp đến quá trình nâng cao chất lượng NLCN trên phương diện học vấn, chuyên môn, nhân cách đạo đức. Tuy nhiên, chất lượng hiệu quả GD-ĐT thấp, mất cân đối trong đào tạo là những vấn đề nổi cộm ảnh hưởng lớn đến chất lượng NLCN của tỉnh. Khắc phục vấn đề này là yêu cầu cấp bách, có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nguồn nội lực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, đẩy nhanh CNH, HĐH ở Bến Tre.

Thứ tư, mức sống của người dân cũng là yếu tố tác động đến quá trình phát triển NLCN ở tỉnh Bến Tre

Cùng với những thành tựu đạt được trong quá trình đổi mới, những năm qua, mức sống của dân cư Bến Tre từng bước được nâng lên, tỷ lệ hộ khá, giàu tăng lên. Thu nhập bình quân đầu người nâng dần từ 4.115.000 đồng năm 2000 lên 6.119.000 đồng năm 2004 [12, tr.26]. Đây chính là điều kiện vật chất tác động tích cực đến chất lượng NLCN. Những nhu cầu về: ăn, mặc, ở, nhu cầu học tập, chăm sóc sức khỏe, vui chơi giải trí… từng bước được cải thiện.

Đến nay, toàn tỉnh tuy chỉ còn 4,62% hộ nghèo (theo chuẩn cũ), nhưng mức thu nhập bình quân đầu người ở Bến Tre chỉ mới đạt xấp xỉ 6,2 triệu đồng/ năm (chưa quá 400 USD), thấp hơn so với mức bình quân đầu người của cả nước. Qua thực tế cho thấy, NLCN ở Bến Tre đông nhưng không mạnh, tiềm năng to lớn nhưng chưa được khai thác và sử dụng có hiệu quả. Tình trạng này có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính vẫn là do nền kinh tế của tỉnh chưa phát triển, thu nhập của người lao động chưa được cải thiện đáng kể. Những đầu tư của Nhà nước cho con người trong giới hạn nền kinh tế một tỉnh nghèo, chưa thể thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của người lao động. Có lẽ đây là lý do mà nhiều sinh viên Bến Tre sau khi tốt nghiệp ra trường không muốn trở về tỉnh công tác; nhiều trí thức, cán bộ KH-CN có trình độ, năng lực nhưng không ở lại phục vụ quê hương; người lao động có tay nghề có xu hướng đi ra ngoài tỉnh làm việc để có thu nhập cao hơn… Điều này gây ra sự hụt hẫng trong đội ngũ nhân lực chất lượng cao của tỉnh trong nhiều năm qua.

Thứ năm, chính sách phát triển NLCN của tỉnh Bến Tre là yếu tố tác động trực tiếp đến quá trình phát triển NLCN của tỉnh

Bước vào thế kỷ XXI, thời kỳ cả nước đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế, đẩy nhanh CNH, HĐH, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII khẳng định, Bến Tre quyết tâm “khai thác mọi nguồn lực, đẩy mạnh tốc độ phát triển nền kinh tế tỉnh nhà nhanh và bền vững” [23, tr.47]. Trong các nguồn lực, NLCN được xác định là nguồn lực quan trọng nhất thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển. Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh đề ra Chương trình “Nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, dạy nghề – giải quyết việc làm và chăm sóc sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001-2005”. Chương trình đã thể hiện rõ quan điểm phát triển NLCN trên tất cả các mặt: giáo dục – đào tạo nghề, chăm sóc sức khỏe và giải quyết việc làm cho người lao động. Đây là chính sách lớn của tỉnh với mục tiêu tạo ra bước đột phá, hình thành nên động lực mới về NLCN cho phát triển kinh tế-xã hội. Sau gần 5 năm triển khai, chương trình đã tạo ra sự chuyển biến tích cực, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, phát triển đào tạo nghề kết hợp sử dụng, giải quyết việc làm cho người lao động, bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân tốt hơn. Từ đó đã tác động tích cực, thúc đẩy phát triển toàn diện con người cả về trí tuệ, thể lực, nhân cách,… nâng cao chất lượng NLCN từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh.

Chăm lo phát triển đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước là một ưu tiên trong chính sách phát triển NLCN của tỉnh từ nay đến 2010. Tuy nhiên, “Đội ngũ cán bộ vẫn còn hụt hẫng, chưa đồng bộ, thiếu cán bộ giỏi về quản lý kinh tế, sản xuất kinh doanh, khoa học kỹ thuật” [23,tr.38]. Nhằm tập trung xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, thu hút nhân tài về cho tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành một số chính sách ưu đãi đối với cán bộ, công chức, sinh viên có trình độ, như Quyết định số 4051/2001/QĐ-UB ngày 4/9/2001. Quyết định có tính đột phá này đã tạo động lực thu hút, thúc đẩy phát triển về chất trong nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh. Qua hơn 3 năm thực hiện, hàng trăm cán bộ, công chức của tỉnh đã được tạo điều kiện học tập và đạt trình độ tiến sĩ, thạc sĩ; hàng ngàn cán bộ có trình độ đại học, trung cấp; nhiều cán bộ, công chức được bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ. Ngoài ra, chính sách này còn thu hút được nhiều sinh viên có trình độ đại học về tỉnh công tác. Đội ngũ cán bộ, công chức này đang từng bước phát huy năng lực, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ trong thời kỳ CNH, HĐH.

Với chính sách trợ cấp, đãi ngộ trên, tỉnh đã kịp thời đáp ứng phần nào yêu cầu xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh trong thời gian qua. Tuy vậy, chính sách chưa thật sự là động lực mạnh mẽ tạo sự chuyển biến rõ nét về chất lượng trong đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh. Tuy số lượng có tăng, nhưng cán bộ được đào tạo trình độ sau đại học còn ít, nhất là trình độ tiến sĩ. Phần đông cán bộ, công chức được đào tạo đại học chủ yếu là hệ tại chức nên hạn chế về chất lượng và hiệu quả công tác. Chính sách chưa tạo ra sức hấp dẫn đủ mạnh để có thể thu hút được nhiều người tài, chuyên gia giỏi, cán bộ có năng lực về tỉnh công tác. Chính sách cũng chưa tạo ra sự ràng buộc nhất định, nên còn một số cán bộ được tỉnh đưa đi đào tạo, sau khi ra trường đã chuyển đi nơi khác làm việc, nhất là cán bộ trẻ có năng lực.

Có thể nói, thu nhập thấp, điều kiện, môi trường làm việc còn khó khăn đã hạn chế khả năng và cơ hội thăng tiến của nhiều người. Đây là nguyên nhân chính làm cho Bến Tre mất đi một đội ngũ lao động trẻ, có khả năng tiếp cận những thành tựu KH-CN hiện đại. Vì vậy, chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh chưa thật sự phát huy tác dụng. Điều này đòi hỏi Bến Tre cần chú trọng nhiều hơn đến chiến lược nhân tài của tỉnh trong thời gian tới.