Những yếu kém trong quản lý quy hoạch tại TP.HCM

1.  Pháp luật còn nhiều hạn chế, rườm rà, chồng chéo

Hệ thống luật pháp nước ta chưa hoàn thiện, nhiều văn bản còn chồng chéo, chưa phù hợp dẫn đến khó khăn khi áp dụng. Quy định về Quy hoạch và thiết kế đô thị nhiều song vẫn còn chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, thiếu đồng bộ, thiếu tính thống nhất, hiệu lực pháp lý thấp.

Hệ thống văn bản liên quan đến lĩnh vực đất đai còn nhiều điểm chưa thống nhất, chưa nhất quán với các bộ luật khác, một số quy định phải sửa đổi, bổ sung nhiều lần, thậm chí nhiều văn bản vừa có hiệu lực đã lạc hậu so với thực tiễn… Ví dụ như  việc xác định giá đất thị trường, chính sách hỗ trợ đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư… Chính sách đất đai bất cập dẫn đến nhiều khó khăn phức tạp trong giải quyết tranh chấp, giải phóng mặt bằng(GPMB); giá đất bồi thường chưa theo kịp giá thị trường gây khó khăn cho công tác GPMB và tiến độ thực hiện dự án. Ví dụ như công tác đền bù

giải tỏa thuộc dự án đầu tư xây dựng Khu Công Nghệ Cao được triển khai từ năm 2002, ảnh hưởng đến hơn 3.000 hộ dân, gần 13.000 nhân khẩu .Theo quy định của dự án, công tác đền bù giải tỏa phải hoàn thành vào năm 2005 nhưng đến năm 2012, sau nhiều lần được thành phố gia hạn thời gian, Khu Công Nghệ Cao chỉ mới thu hồi đất của 2.910 hộ với diện tích 767,25 ha/801 ha (đạt 95,78%).

Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành để bảo đảm sự thống nhất giữa quy hoạch sử dụng đất chung và quy hoạch ngành; chồng chéo giữa quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội với các quy hoạch phát triển không gian đô thị, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch nông nghiệp, quy hoạch giao thông, công nghiệp và du lịch. Quy hoạch thường xuyên bị điều chỉnh theo yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội.

Những khu vực đặc thù về kiến trúc, có giá trị lịch sử, văn hóa cần bảo tồn thì hiện vẫn chỉ có quy chế quản lý tạm thời, hơn nữa quy chế đã được ban hành từ khá lâu, không còn phù hợp với xu thế phát triển hiện tại. Các tiêu chuẩn, quy chuẩn đang áp dụng thì hầu hết đã cũ, không còn phù hợp. …

Bên cạnh đó trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất còn quá  rườm rà, nhiều thủ tục chưa đồng bộ với các thủ tục về đầu tư, xây dựng. Ngoài ra còn có sự cồng kềnh, máy móc, chồng chéo về thủ tục hành chính đã làm hao phí thời gian của các chủ đầu tư, ảnh hưởng đến hoạt động trong lĩnh vực đầu tư và quản lý đất đai. Chính sự bất cập này đã làm cho các cơ quan quản lý Nhà nước khó áp dụng, gây khó khăn cho việc quản lý, sử dụng đất đai.

 2. Công tác quản lý quy hoạch còn nhiều hạn chế

Chất lượng quy hoạch chưa tốt, công tác lập quy hoạch còn chậm, thiếu quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết và việc điều chỉnh quy hoạch còn chưa phù hợp. Công tác quản lý xây dựng theo quy hoạch còn yếu, thiếu kết nối hạ tầng giữa các dự án đô thị, dẫn đến tình trạng ùn tắc giao thông vẫn xảy ra thường xuyên. Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước về phát triển đô thị còn thiếu thống nhất, năng lực triển khai đầu tư xây dựng đô thị hạn chế. Kết cấu hạ tầng kỹ thuật, xã hội đô thị tại các địa phương còn thiếu đồng bộ, gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt trong vấn đề xử lý rác thải vẫn còn mang tính cục bộ địa phương, gây cản trở cho sự phát triển kinh tế – xã hội chung của vùng đô thị. Ví dụ như chính sách quy hoạch các cụm công nghiệp (CCN) để đưa các cơ sở sản xuất về một mối của TPHCM là nhằm hạn chế ô nhiễm và xây dựng một nền công nghiệp tập trung.  Nhưng người dân trong các cụm công nghiệp không những không có lợi mà họ còn phải đối mặt với nhiều vấn đề về ô nhiễm môi trường: Quận 12 có CCN Tân Thới Nhất và CCN Quang Trung. Theo quy hoạch, CCN Tân Thới Nhất rộng 50 ha, tập trung các nhà máy, cơ sở sản xuất thuộc ngành nghề dệt, cơ khí. Đến nay CCN Tân Thới Nhất đã có 150 nhà máy, cơ sở sản xuất đi vào hoạt động nhưng không tập trung mà nằm đan xen trong khu dân cư, hàng ngày khói bụi, chất thải xả ra bao trùm cả vùng. Bởi nhà máy nằm chung với khu dân cư nên người dân chỉ biết che chắn nhà cửa, sống chung với ô nhiễm. Còn CCN Quang Trung có diện tích 50 ha nhưng đến nay mới có chừng 30 nhà máy, CSSX hoạt động. Chỉ mỗi khi có doanh nghiệp đến đầu tư, cơ quan chức năng mới giải tỏa để lấy đất dựng nhà máy. Thực tế các CCN nằm giữa khu dân cư, không được đầu tư hoàn chỉnh nên chẳng khác nào gom ô nhiễm từ các nơi đem về một chỗ.

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các chủ trương, pháp luật của Nhà nước chưa được thường xuyên, đồng bộ. Công tác phối hợp giữa các ban, ngành của thành phố với các địa phương và các chủ đầu tư để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về đất đai đối với các dự án còn yếu và chưa thường xuyên. Do vậy, hiệu quả sử dụng đất của các dự án chưa cao; các địa phương chưa thu hút được nhiều dự án đầu tư có quy mô lớn, dự án có công nghệ cao, công nghệ sạch.

Công tác quản lý thực hiện quy hoạch còn nhiều hạn chế, bất cập về cơ chế, nhiều nơi bị buông lỏng, thiếu sự phân cấp, phân công hợp lý về chức năng đối với các sở chuyên ngành như xây dựng, quy hoạch – kiến trúc và UBND các quận, huyện trong quản lý, theo dõi việc lập, thẩm định, trình duyệt và thực hiện quy hoạch. Lực lượng cán bộ chuyên trách cho công tác này còn nhiều hạn chế về năng lực. Công tác quản lý, kiểm tra, giám sát chưa chặt chẽ, thường xuyên dẫn tới tình trạng vi phạm quy hoạch diễn ra phổ biến, khó xử lý và gây thiệt hại không nhỏ về kinh tế.

Việc phân cấp quản lý cũng có sự hạn chế. Hiện nay có một số quy hoạch được giao cho UBND cấp huyện quản lý, nhưng năng lực, trình độ, lực lượng của cấp chính quyền này còn thiếu và yếu. Hay việc quản lý hệ thống hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn của huyện còn chưa có sự kết nối với hệ thống chung của thành phố. Thực tế cho thấy mặc dù TP đã ban hành quyết định phê duyệt quy hoạch CCN, nhưng trên thực tế các quận, huyện lại không đầu tư, quản lý đúng theo quy hoạch. Do phát triển thiếu kiểm soát, không theo quy hoạch nên nhà máy, cơ sở sản xuất nằm xen lẫn với khu dân cư. Các CCN vẫn phát triển theo kiểu tự phát, nhu cầu đầu tư đến đâu sẽ được giải tỏa mặt bằng đến đó. Hạ tầng kỹ thuật từ đường giao thông, hệ thống thoát nước chưa được đầu tư đồng bộ, đúng mức. Hầu như các CCN đều chưa được đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải, chất thải tập trung. Hạ tầng kỹ thuật CCN thiếu, chưa hoàn chỉnh là nguyên nhân dẫn đến CCN gây ô nhiễm cho khu dân cư, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân.

Ngoài ra các cơ quan chậm trả lời tham vấn về chỉ giới quy hoạch, hành lang giao thông, thoát lũ, đê điều, đường điện, hành lang bảo vệ các công trình an ninh, quốc phòng, văn hóa, xác định công trình xây dựng phù hợp với quy hoạch, không có tranh chấp cũng là nguyên nhân làm chậm tiến độ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

3. Lực lượng làm công tác Quy hoạch còn thiếu và yếu

Quy hoạch đô thị là môn khoa học liên ngành, đòi hỏi nhiều bộ môn, nhiều lĩnh vực cùng tham gia như kinh tế đô thị, cây xanh và cảnh quan, môi trường, cấp thoát nước, điện, thông tin, lịch sử, văn hóa, xã hội học đô thị…Việc nghiên cứu để quy hoạch một đô thị là một quá trình nghiên cứu dày công về nhiều mặt, cần sử dụng một khối lượng tri thức liên ngành rộng rãi với một đội ngũ chuyên viên đông đảo, được đặt dưới sự chỉ đạo của những nhà khoa học có uy tín, với một khối lượng kinh phí đầu tư thỏa đáng và một quỹ thời gian cần và đủ cho công việc.

Tuy nhiên lực lượng những người làm quy hoạch đô thị ở TP Hồ Chí Minh còn quá mỏng so với khối lượng công việc. Vấn đề thiếu cán bộ quản lý quy hoạch, xây dựng đô thị là một trong nhiều khó khăn đặt ra đối với thành phố khi triển khai công tác quy hoạch, xây dựng và quản lý đô thị . Người làm quy hoạch và quản lý quy hoạch chưa đủ chuyên môn, năng lực để có thể đưa ra những dự án quy hoạch sát thực tế, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của mỗi địa phương và mỗi giai đoạn khác. Hàng năm có nhiều kiến trúc sư quy hoạch được đào tạo, song trên thực tế ở thành phố Hồ Chí Minh lực lượng này vừa thiếu, vừa yếu, lại phối kết hợp với nhau chưa tốt chưa đáp ứng kịp nhu cầu phát triển và tốc độ đô thị hóa nhanh như hiện nay. Năm  2012, sở Kế hoạch Đầu tư đã cấp phép cho 376 đơn vị đăng ký kinh doanh hành nghề tư vấn quy hoạch, nhưng chỉ 33 đơn vị tham gia lập quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết. Đến khi khảo sát lại, hoạt động này chủ yếu tập trung vào 3-4 đơn vị thực hiện, các doanh nghiệp còn lại không triển khai nhiều. Thực trạng này báo động nguồn nhân lực phục vụ công tác quy hoạch còn hạn chế.

Thứ hai, các kiến trúc sư tham gia công tác thiết kế hầu hết đều chỉ muốn làm nhanh, đúng với các tiêu chí của chủ đầu tư đưa ra, phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn về Quy hoạch, tức là lựa chọn giải pháp an toàn. Và vì thế, các đồ án Quy hoạch ra đời với chất lượng thấp do không được nghiên cứu kỹ lưỡng, hoặc làm ẩu.

Mặt khác nhiều người có nghề, giỏi về quy hoạch thì lại không được tham gia các đồ án quan trọng. Thực tiễn chứng minh, ngoài vấn đề hiểu biết còn có vấn đề quen biết chi phối việc tham gia hay không tham gia thiết kế, quy hoạch.

Thứ ba, lực lượng làm công tác thẩm tra, thẩm định còn nhiều hạn chế về trình độ, năng lực. Ví dụ, ở cấp quận, huyện, phòng Công thương được giao thẩm định hồ sơ Quy hoạch mạng lưới điểm dân cư nông thôn của các xã, phường trực thuộc. Nhưng cán bộ này hầu hết là làm kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ, không được đào tạo chuyên ngành Quy hoạch, và lực lượng này còn mỏng.

 4.  Quy hoạch nhiều nhưng chất lượng thấp, thiếu đồng bộ. Tính dự báo và tính định hướng phát triển KTXT còn chưa được thể hiện rõ, thiếu tầm nhìn, thiếu tính khả thi.

v    Chất lượng quy hoạch thấp, thiếu đồng bộ

Hiện nay TP HCM làm nhiều quy hoạch, song các quy hoạch không nối kết, không đồng bộ đã dẫn đến sự chồng chéo. Các quy hoạch ngành thiếu sự phối hợp: Quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch hệ thống thông tin, điện, quy hoạch xây dựng.., giữa quy hoạch giao thông và quy hoạch các công trình, cơ sở hạ tầng khác . Ngoài ra công tác lập quy hoạch xây dựng đô thị ở các quận huyện còn bị động, chưa đồng bộ với quy hoạch phát triển ngành và phát triển kinh tế- xã hội khiến một số đồ án quy hoạch bị kéo dài. Ở thành phố Hồ Chí Minh còn tồn tại tất nhiều đồ án “Quy hoạch treo”, chất lượng của đồ án còn thấp, thiếu tính thực tế, hoặc quy hoạch chậm, đi theo xây dựng.

Quy hoạch có chất lượng thấp, lại thiếu quy hoạch phân khu, nên phát triển chia cắt, riêng rẽ, không kết nối hạ tầng. Quy hoạch đôi khi lại bị điều chỉnh một cách tùy tiện, theo nhu cầu của chủ đầu tư, nên hạ tầng xã hội vẫn chưa được quan tâm đúng mức.

Theo báo cáo của sở Quy hoạch kiến trúc TP.HCM, tính đến ngày 10/9/2012, TP.HCM hiện có gần 30 khu quy hoạch “treo”. Điển hình là khu đô thị sinh thái Bình Quới – Thanh Đa, (phường 28, quận Bình Thạnh) với diện tích 450ha, được UBND TP.HCM phê duyệt từ năm 1992 nhưng án binh bất động từ đó đến nay. Hay dự án tại khu C30 (nay thuộc tổ 1, 2, KP.1, P.6, Q.Tân Bình, TP.HCM) được công bố vào năm 1980. Theo quy hoạch, khu này làm cơ quan, nhà ở của ngành bưu điện, với tổng diện tích hơn 40 ha. Đến năm 2009, UBND TP ra quyết định quy hoạch để làm trung tâm thương mại, sản xuất kỹ thuật cao, kinh doanh, dịch vụ chuyên ngành bưu chính viễn thông và công nghệ thông tin. Từ đó đến nay không có chuyển biến gì mới.

Hơn nữa do vai trò yếu kém của các cơ quan quản lí đô thị, đô thị phát triển không kiểm soát, kém hiệu quả về hạ tầng kỹ thuật và xã hội, tình trạng cấp đất tràn lan cho các dự án BĐS, hạ tầng không đồng bộ, quy hoạch điều chỉnh tùy tiện, nhà trẻ, công viên biến thành nhà chia lô, kinh doanh… Thực tiễn này dẫn tới quy hoạch bị phá vỡ, đất nông nghiệp liên tục bị chuyển đổi thành đất công nghiệp nhằm mục đích chiếm dụng đất trong khi chủ đầu tư không có năng lực tài chính để thực hiện dự án. Hiện tượng này là nguồn gốc của bất ổn xã hội và đẩy giá lương thực lên cao trong khi cuộc sống người nông dân rất khó khăn.

v    Quy hoạch thiếu tầm nhìn, tính dự báo và tính định hướng phát triển kinh tế- xã hội chưa cao

Một vấn đề yếu kém trong quản lí quy hoạch ở TP HCM  là quy hoạch thiếu tầm nhìn, hoặc tầm nhìn ngắn, xuất phát từ quy hoạch ban đầu lệch thực tế. Khi đó, các nhà quy hoạch cứ căn cứ vào tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế ngay thời điểm hiện tại mà làm, mà không tính đến lúc tình hình kinh tế khó khăn, các nhà đầu tư quay lưng hoặc rút khỏi dự án. việc đánh giá hiện trạng trở nên lỗi thời, tính dự báo chưa phù hợp. Trong quá trình khảo sát, các dữ liệu đầu vào chưa đầy đủ, nhiều thông tin cần thiết thì khó tiếp cận do quy hoạch động tới nhiều vấn đề nhạy cảm, vấn đề kinh tế – xã hội. Các dự báo thiếu tính chính xác, chưa lường hết được tốc độ phát triển dân số, tốc độ phát triển kinh tế, sự tăng nhanh của quá trình đô thị hóa, các chế độ chính sách của chúng ta liên tục thay đổi.

Một ví dụ thực tế thành phố Hồ Chí Minh vẫn chưa có qui hoạch giao thông theo đúng nghĩa của nó: dự báo lưu lượng giao thông, từ đó đưa ra qui mô hệ thống giao thông phù hợp. Tình hình giao thông đô thị hiện nay ở TP Hồ Chí Minh hiện đã đến mức báo động. Đáng lẽ tất yếu này phải được các nhà quy hoạch tiến hành những thống kê cần thiết để dựa trên đó làm qui hoạch giao thông, dự báo từ xa trong những công trình quy hoạch tổng mặt bằng đô thị nhiều năm trước đây.  Nếu làm được như vậy, thì đã khai thác được năng lực của hệ thống giao thông công cộng bằng những loại hình tối tân, do có kế hoạch chuẩn bị từ nhiều năm trước. Việc thoát nước cũng phải dự báo từ lâu bằng những công trình khoa học nghiêm túc để đề xuất về những biện pháp chuẩn bị từ xa. Còn thực tế thì ngay cả cơ quan quy hoạch TP. Hồ Chí Minh vẫn chưa có bản đồ địa hình đúng chuẩn.

Qui hoạch VN nói chung và ở TP Hồ Chí Minh nói riêng vẫn đi theo phương pháp lỗi thời. Các bản qui hoạch đô thị là những bản vẽ tương đối cụ thể với ít nghiên cứu về hiện trạng và hạn chế về khả năng dự báo tương lai. Ngoài ra phương pháp qui hoạch hiện nay tách rời các lĩnh vực chuyên môn vốn gắn kết với nhau như qui hoạch giao thông và qui hoạch sử dụng đất là một hiện tượng điển hình. Những hạn chế này dẫn đến việc các bản qui hoạch thường xa rời thực tế, mang nặng tính hình thức và do đó, luôn bị thay đổi và không giúp giải quyết các vấn nạn đô thị hiện tại. Một số khu đô thị mới được thiết kế thì chỉ tính toán tới giới hạn của khu đất, không có sự liên kết với hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội của toàn khu, của tổng thể đô thị.

5.  Việc công khai, cung cấp thông tin quy hoạch xây dựng chưa được thực hiện nghiêm túc

Những năm gần đây so với tốc độ xây dựng đô thị, công tác quy hoạch còn bộc lộ nhiều yếu kém mà một trong những nguyên nhân đó chính là việc công khai cung cấp thông tin quy hoạch xây dựng chưa hoàn thiện, nghiêm túc dẫn tới vai trò tham gia của cộng đồng chưa được coi trọng và phát huy hết hiệu quả của nó.

Trong khi người dân sống tại khu vực lập quy hoạch chịu sự tác động trực tiếp nhất đến đời sống xã hội thì thường lại là những người bị động trong các kế hoạch phát triển, chịu sự áp đặt của các chủ đầu tư triển khai thực hiện dự án theo quy hoạch. Ngược lại, đôi khi người dân lại có những phản ứng cản trở quá trình thực hịên quy hoạch. Điều này chứng tỏ những quy định về sự tham gia của người dân trong việc lập quy hoạch vẫn chưa thoả đáng. Thực tế, người dân được tham gia ý kiến muộn, còn mang tính hình thức, sự công bố quy hoạch với mục tiêu cho dân biết hơn là sự lắng nghe góp ý.

Giai đoạn vừa qua người dân chỉ được tham gia góp ý kiến khi đồ án quy hoạch cơ bản đã hoàn thành hoặc ở dưới dạng công bố đồ án quy hoạch. Các ý kiến góp ý cũng không được phản hồi một cách chính thức. Người dân quan tâm không phải chỉ ở giải pháp quy hoạch mà ở chính mục tiêu mà đồ án quy hoạch đặt ra, quan tâm đến sự tác động của các đồ án quy hoạch đến cuộc sống của mình. Nhưng đôi khi sự quan tâm ấy không nằm trong nhiệm vụ của đồ án quy hoạch. Điều này dẫn đến sự tuỳ tiện cố ý của các nhà đầu tư cộng với sự lơ là của cơ quan quản lý tác động đến quyền lợi của người dân mà không được phát hịên kịp thời. Chỉ khi vấn đề nghiêm trọng công luận bức xúc lên tiếng mới được phanh phui.