Những yếu tố ảnh hưởng quan hệ Việt-Mỹ cần giải quyết để thúc đẩy quan hệ trong tương lai

1.  Nhân tố Trung Quốc :

Vì những lý do chiến lược, Trung Quốc không muốn chứng kiến một quan hệ liên minh gần gũi giữa ViệtNam và Mỹ hình thành ngay sát biên giới phía Nam của mình. Cả Mỹ và Việt Nam đều không muốn gây hấn với Trung Quốc một cách không cần thiết. Là siêu cường đang ngự trị, Mỹ có nhiều lựa chọn hơn Việt Nam . Nếu quan hệ tốt với Trung Quốc là điều mong muốn của Mỹ, thì với Việt Nam đó là điều cần thiết. Là một nước nhỏ nằm cạnh một người láng giềng khổng lồ với một lịch sử quan hệ phức tạp, trong các quan hệ với Mỹ, Việt Nam phải thực hiện những lựa chọn khó khăn giữa một bên là sự cần thiết phải có mối quan hệ láng giềng tốt với Trung Quốc, một bên là sự cấp thiết phải khẳng định quyền chủ quyền trong việc theo đuổi các mối quan hệ ngoại giao với các nước khác nhằm bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mình.

Nếu sự cần thiết phải chú ý đến mối quan hệ nhạy cảm với Trung Quốc có thể trở thành vật cản hoặc làm chậm lại tiến trình xây dựng lại quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ, đặc biệt trong lĩnh vực quốc phòng/an ninh, thì những đòi hỏi quá đáng và thái độ hiếu chiến của Trung Quốc ở Biển Đông trong vài năm gần đây đã dẫn đến sự hội tụ các lợi ích an ninh giữa Việt Nam và Mỹ. Cả hai nước đều lo ngại về chương trình hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc làm tăng khả năng áp đặt ý chí của Trung Quốc trong các tranh chấp ở Biển Đông.

Thái độ của Trung Quốc gần đây, đã dẫn đến một sự hội tụ những lợi ích chiến lược giữa Mỹ và Việt Nam và sự cải thiện trong hợp tác quân sự giữa hai nước. Những gì diễn ra tiếp theo sẽ tùy thuộc vào việc mỗi nước đánh giá như thế nào về khả năng và ý định của nước kia.

2.  Việt Nam nhìn từ góc độ chiến lược của Mỹ :

Sau Chiến tranh Việt Nam, và đặc biệt sau khi Việt Nam đưa quân vào Campuchia, Mỹ coi Việt Nam là một công cụ cho chủ nghĩa bành trướng của Liên Xô ở Đông Nam Á. Mỹ đứng cùng phía với Trung Quốc và ASEAN chống lại Việt Nam ở Campuchia. Tuy nhiên, khi Việt Nam cải cách kinh tế, thay đổi chính sách đối ngoại, và tăng cường hội nhập vào ASEAN, và đặc biệt từ khi bình thường hóa quan hệ hai nước, cách nhìn của Mỹ với Việt Nam đã thay đổi.

Trong tam giác Mỹ – Việt – Trung, Mỹ cảm thấy yên tâm hơn rất nhiều với Việt Nam . Dù Mỹ cần sự hợp tác của Trung Quốc để đối phó với một số vấn đề quan trọng toàn cầu, như chấm dứt các chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên và Iran, chống hiện tượng nóng lên toàn cầu, vv, Mỹ vẫn coi Trung Quốc là một đối thủ tiềm tàng. Trong khi Trung Quốc có thể trở thành một mối đe dọa đối với an ninh và vị trí toàn cầu của Mỹ, Việt Nam không phải là mối đe dọa đối với Mỹ. Không chỉ không có xung đột chiến lược giữa Mỹ với Việt Nam, mà trong cách nhìn của Mỹ, Việt Nam là một lực lượng quan trọng đóng góp vào trật tự an ninh đang nổi lên ở châu Á-Thái Bình Dương. Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ phụ trách Kinh tế, Năng lượng và các vấn đề Văn hóa đã coi việc củng cố mối quan hệ với Việt Nam là “một trụ cột trong sự hiện diện của chúng ta ở khu vực (Thái Bình Dương) và sự tham gia của chúng ta trong các thể chế đa phương ở châu Á – Thái Bình Dương”. Quan điểm tích cực này về Việt Nam đã khuyến khích Mỹ thúc đẩy các mối quan hệ gần gũi hơn giữa hai nước. Cho đến nay, mong muốn tăng cường quan hệ với Việt Nam từ phía Mỹ biến đổi tỉ lệ nghịch với những hành động hiếu chiến của Trung Quốc và tỉ lệ thuận với quyết tâm và khả năng của Việt Nam trong việc đóng một vai trò độc lập ở châu Á.

Những thù địch trong quá khứ xuất phát từ hai cuộc chiến tranh – Chiến tranh Việt Nam và Chiến tranh Campuchia – và nhận thức của Việt Nam về những nguyên nhân sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở châu Âu đã khiến các nhà lãnh đạo của Việt Nam nghi ngờ rằng Mỹ muốn lật đổ các chế độ cộng sản còn lại, trong đó có Việt Nam. Các nghị quyết của Đảng, phân tích trên báo chí và các tuyên bố chính thức vẫn tiếp tục nhắc đến nguy cơ “diễn biến hòa bình” và những âm mưu “lợi dụng tự do dân chủ” của “các thế lực thù địch” nhằm lật đổ chế độ.

Chính phủ Việt Nam coi việc Mỹ thúc đẩy dân chủ và sức ép đối với vấn đề nhân quyền như một công cụ làm tổn hại đến chế độ cộng sản. Lo ngại này có thể giải thích được nhưng không nhất thiết phản ánh lợi ích chiến lược của Mỹ. Mỹ muốn thấy một Việt Nam vững mạnh, ổn định và độc lập. Một sự thay đổi chính quyền bằng bạo lực ở Việt Nam không mang lại lợi ích chiến lược nào cho Mỹ, vì nó sẽ tạo khoảng trống mà rất có thể các lực lượng thù địch với Mỹ sẽ lấp vào.

Khi Việt Nam tiến gần hơn với Mỹ, Việt Nam cũng phải lo ngại về khả năng sẽ trở thành con tốt thí trên bàn cờ chính trị của các nước lớn, giống như trường hợp của Bắc Việt Nam năm 1954 và Nam Việt Nam năm 1973. Khi nào sự thiếu tin tưởng và thiếu chắc chắn này về cam kết của Mỹ vẫn còn, quan hệ Mỹ – Việt sẽ không đạt được đến mức độ như quan hệ giữa Mỹ với nhiều đối tác châu Á khác.

3.  Nhân tố giá trị :

Giữa các quốc gia có chế độ chính trị khác nhau hoặc đối lập nhau vẫn có thể có sự hợp tác cùng có lợi, thậm chí là liên minh tạm thời, nhưng để có một mối quan hệ hợp tác ổn định, lâu dài là điều không thể. Vì sự khác nhau giữa các hệ thống giá trị giữa Mỹ và Việt Nam , vấn đề nhân quyền đã tác động và sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến đường hướng trong mối quan hệ Mỹ – Việt. Nó có thể kéo hai quốc gia lại gần nhau, cũng có thể tạo ra xung đột.

Vấn đề nhân quyền chiếm một vị trí quan trọng trong quan hệ Mỹ – Việt vì nhiều lý do. Thứ nhất, nó là niềm tin cốt lõi của người Mỹ. Thứ hai, tầm quan trọng về kinh tế và chiến lược của Việt Nam đối với Mỹ chưa đến mức có thể lấn át những quan tâm về nhân quyền. Thượng nghị sĩ McCain, một cựu chiến binh Việt Nam và là người ủng hộ mạnh mẽ quan hệ Mỹ – Việt, đã nói rằng “quan hệ đối tác hiện nay của chúng ta trên các mối quan tâm chung cuối cùng sẽ trở thành một quan hệ đối tác trên các giá trị chung”. Thứ ba, dân chủ và sự tôn trọng nhân quyền là xu hướng nổi trội trong thời đại của chúng ta; bản thân Chính phủ Việt Nam đã cam kết xây dựng một “nước giàu mạnh và xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Không có sự khác biệt nào, về nguyên tắc, trong ước nguyện cao nhất của nhân dân hai nước, chỉ có sự khác biệt trong cách diễn giải. Cuối cùng, mối quan tâm về nhân quyền được thể chế hóa trong chính trị Mỹ. Quốc hội đã lập ra Ủy ban về Tự do Tôn giáo Quốc tế Mỹ. Bộ Ngoại giao có chức Trợ lý Ngoại trưởng về Dân chủ, Nhân quyền và Lao động. Báo cáo hàng năm về nhân quyền của Bộ Ngoại giao Mỹ là trách nhiệm do Quốc hội giao. Đại sứ quán Mỹ tại Việt Namkhông có lựa chọn nào khác ngoài việc cung cấp phần của họ trong báo cáo hàng năm và phải làm việc hết sức với chính quyền Việt Nam để thể hiện sự tiến bộ trong vấn đề.

Sự cải thiện hơn nữa trong quan hệ Mỹ – Việt phụ thuộc vào vấn đề nhân quyền được giải quyết như thế nào từ cả hai phía, và quan trọng hơn là sáng kiến của chính Việt Nam về cải cách chính trị.

4.  Quan hệ giữa Việt Nam với người Mỹ gốc Việt :

Người Mỹ gốc Việt có thể có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đối với quan hệ Mỹ – Việt. Tuy nhiên, nó phụ thuộc hoàn toàn vào mối quan hệ giữa cộng đồng người Việt tại Mỹ với Chính phủ Việt Nam .

Việt Nam hướng đến cộng đồng người Việt tại Mỹ như một nguồn tài chính (tiền gửi về nước và du lịch), tiềm năng về chuyên gia, và muốn họ trở thành một lực lượng vận động hành lang cho Việt Nam ở Mỹ.

Sự nổi lên của một thế hệ mới người Việt, cả ở trong nước lẫn nước ngoài, không mang theo những hệ quả của chiến tranh, sự kết nối và giao lưu giữa người Mỹ gốc Việt và người Việt Nam ở trong nước, cũng như những người đang học tập tại Mỹ (trong đó có các quan chức chính phủ) sẽ mang lại sự hiểu biết lẫn nhau tốt hơn, thu hẹp khoảng cách về nhận thức giữa họ, và thúc đẩy sự hợp tác giữa Mỹ với Việt Nam. Có thể cho rằng sự chỉ trích mang tính xây dựng đối với những vi phạm về nhân quyền có thể có một tác động tích cực. Nhân quyền phản ánh các giá trị và mối quan tâm của nước Mỹ, đưa chính quyền và nhân dân hai nước lại gần nhau trong các giá trị chính trị; và sự tương thích về chính trị là một cơ sở vững chắc cho mối quan hệ ổn định và hữu nghị.

5.  Các yếu tố khác :

Thứ nhất, về lịch sử, đây là mối quan hệ giữa hai quốc gia “cựu thù”. Cuộc chiến tranh kéo dài mấy thập niên giữa Việt Nam và Mỹ không đơn giản là một cuộc chiến tranh nóng giữa một nước “đế quốc to” và một nước nhỏ. Đây là cuộc đối đầu mang đậm màu sắc ý thức hệ giữa hai hệ thống thế giới đối lập nhau, một cuộc chiến khốc liệt giữa một bên là một siêu cường TBCN muốn dùng vũ lực với sức mạnh áp đảo áp đặt hệ giá trị của mình lên đối thủ, với bên kia là ý chí của một dân tộc, của một nước nhỏ quyết tâm bằng mọi giá bảo vệ nền độc lập tự chủ giành được bằng xương máu của nhiều thế hệ; bảo vệ con đường, định hướng phát triển mà họ đã lựa chọn. song dù muốn hay không, hậu quả và những di chứng mà cuộc chiến tranh này để lại không thể không ít nhiều ảnh hưởng đến quan hệ Việt – Mỹ, kể cả từ khi bình thường hoá đến nay.

Thứ hai, xét về vị thế quốc tế, quan hệ Mỹ – Việt là quan hệ giữa siêu cường thế giới duy nhất sau Chiến tranh lạnh, nước lớn đứng đầu hệ thống TBCN thế giới với một nước XHCN không lớn, hơn thế nữa còn đã ngày càng gặt hái được nhiều thành công hơn trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế cũng như trong việc nâng cao vị thế quốc tế của mình.

Thứ ba, về chính trị – tư tưởng, đây là quan hệ giữa hai nhà nước dân tộc có mục tiêuchiến lược đối kháng nhau: Mục tiêu chiến lược của Việt Nam là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, còn mục tiêu chiến lược của Mỹ là chuyển hoá các nước còn khác biệt về thể chế chính trị với Mỹ vào quỹ đạo của Mỹ, đi theo hệ giá trị của Mỹ nói riêng, hệ giá trị, hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa nói chung. Chính đặc thù này đã làm cho mặt đấu tranh trong quan hệ Việt – Mỹ luôn thường trực và không hiếm khi gay gắt.

Thứ tư, về kinh tế, đây là quan hệ giữa một nền kinh tế thị trường khổng lồ và rất phát triển với một nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi, tiềm lực còn nhỏ nhưng lại giàu tiềm năng phát triển. Đặc thù này làm cho mặt hợp tác trong quan hệ Việt – Mỹ nổi trội hơn mặt đấu tranh, mặt cơ hội lớn hơn mặt thách thức, vì cả hai bên đều có nhu cầu tận dụng mặt có lợi cho mình trong đối tác, đều muốn thúc đẩy mặt hợp tác vì lợi ích quốc gia của mỗi nước. Điều này cũng dễ hiểu: Về phía Việt Nam, ngay từ đầu Việt Nam đã xác định hợp tác kinh tế là trọng tâm trong quan hệ với Mỹ. Về phía Mỹ, với tư duy và chính sách đối ngoại nổi tiếng thực dụng, người Mỹ thường ít khi bỏ qua những cơ hội có thể mang lại lợi ích cho họ.