Những yếu tố cơ bản của luật thuế

Những yếu tố cơ bản của luật thuế
Đánh giá bài viết

    1.    Người nộp thuế, người chịu thuế

Theo cách hiểu thông thường, người chịu thuế là cá nhân, tổ chức mà theo ý chí của các nhà lập pháp họ thực sự phải chịu gánh nặng tài chính về một hoặc một số loại thuế nào đó. Còn người nộp thuế là các cá nhân, tổ chức có trách nhiệm nộp thuế cho nhà nước. Theo đó, người nộp thuế sẽ là cá nhân, tổ chức thuộc đối tượng phải chịu một hoặc một số thuế nào đó theo quy định của pháp luật thuế và các tổ chức, cá nhân khác có trách nhiệm khấu trừ, làm thủ tục thuế và nộp thuế thay cho đối tượng chịu thuế. Xác định được người chịu thuế có ý nghĩa về mặt nghiên cứu, xây dựng luật25. Trong khi đó quy định rõ các chủ thể là người nộp thuế rất có ý nghĩa trong việc quản lý, thu thuế. Trong các luật thuế Việt Nam, khái niệm người chịu thuế không được đề cập nhưng xác định rất rõ về các chủ thể nộp thuế.

Theo điều 6, Luật quản lý Thuế, người nộp thuế có các quyền như quyền được hướng dẫn thực hiện việc nộp thuế; được cung cấp thông tin, tài liệu để thực hiện nghĩa vụ, quyền lợi về thuế; quyền yêu cầu cơ quan quản lý thuế giải thích về việc tính thuế, ấn định thuế; yêu cầu cơ quan, tổ chức giám định số lượng, chất lượng, chủng loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; quyền được giữ bí mật thông tin theo quy định của pháp luật; được hưởng các ưu đãi về thuế, hoàn thuế theo quy định của pháp luật về thuế; được ký hợp đồng thuê các tổ chức kinh doanh dịch vụ thay mình làm thủ tục về thuế; được quyền yêu cầu cơ quan quản lý thuế xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của mình. Ngoài ra, khi cơ quan thuế tiến hành thanh tra thuế với mình, người nộp thuế được nhận văn bản kết luận kiểm tra thuế, thanh tra thuế của cơ quan quản lý thuế đồng thời có thể yêu cầu giải thích nội dung kết luận kiểm tra thuế, thanh tra thuế và được quyền bảo lưu ý kiến trong biên bản kiểm tra thuế, thanh tra thuế. Người nộp thuế được quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình, được quyền tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật của công chức quản lý thuế và tổ chức, cá nhân khác và được bồi thường những thiệt hại do cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế gây ra theo quy định của pháp luật.

Đồng thời, người nộp thuế có các nghĩa vụ sau26:

–  Đăng ký thuế, sử dụng mã số thuế theo quy định của pháp luật.

–  Khai thuế chính xác, trung thực, đầy đủ và nộp hồ sơ thuế đúng thời hạn; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của hồ sơ thuế.

–    Nộp tiền thuế đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm.

–   Chấp hành chế độ kế toán, thống kê và quản lý, sử dụng hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật.

–   Ghi chép chính xác, trung thực, đầy đủ những hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế, khấu trừ thuế và giao dịch phải kê khai thông tin về thuế.

–   Lập và giao hoá đơn, chứng từ cho người mua theo đúng số lượng, chủng loại, giá trị thực thanh toán khi bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ theo quy định của pháp luật.

–   Cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế, số hiệu và nội dung giao dịch của tài khoản mở tại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác; giải thích việc tính thuế, khai thuế, nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế.

–   Chấp hành quyết định, thông báo, yêu cầu của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế theo quy định của pháp luật.

–   Chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật trong trường hợp người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền thay mặt người nộp thuế thực hiện thủ tục về thuế sai quy định.

     2.   Căn cứ tính thuế

Căn cứ tính thuế là những tiêu chí, số lượng cụ thể để xác định số thuế phải nộp. Căn cứ tính thuế thường được xác định dựa trên đối tượng chịu thuế và và mức thuế suất áp dụng cho từng đối tượng chịu thuế

        3. Đối tượng chịu thuế

Đối tượng chịu thuế, theo giáo trình của Đại học Luật Hà Nội, là đối tượng khách quan phải thu thuế theo quy định của một đạo luật thuế, là vật chuẩn mà dựa vào đó nhà nước thu được một số tiền thuế nhất định27. Việc lựa chọn đối tượng chịu thuế phản ánh ý chí của nhà nước đối với kết quả họat động kinh tế xã hội và cũng là cơ sở phân biệt luật thuế này với luật thuế khác. Trong thực tế, đối tượng chịu thuế có thể là thu nhập, có thể là kết quả họat động kinh doanh hoặc có thể là tài sản28. Mặc dù đối tượng chịu thuế là cơ sở để phân biệt lọai thuế này với lọai thuế khác, nhưng điều đó không có nghĩa là đối tượng chịu thuế theo quy định của luật thuế này không phải là đối tượng chịu thuế của luật thuế khác. Tuy nhiên, sự đánh thuế nhiều lần lên một lọai đối tượng thường xảy ra trong những hòan cảnh đặc biệt và theo những mục tiêu điều chỉnh cụ thể của nhà nước. Ví dụ như một số hàng hóa có thể là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu; hoặc thuế đánh lên hành vi tiêu dùng thực chất là thuế đánh vào thu nhập vv…

     4. Thuế suất

Thông thường thuế suất chỉ cho chúng ta biết là nhà nước sẽ thu được bao nhiêu thuế từ các đối tượng chịu thuế. Tuy nhiên, thuế suất được qui định trong luật đôi khi không phải là thuế suất thực tế mà các đối tượng phải nộp cho nhà nước. Thuế suất thực tế thường bị chi phối bởi các chế độ kế toán, tỉ giá hối đoái, ưu đãi về thuế, vv…Để xem xét, đánh giá một luật thuế, thông thường người ta sử dụng thuế suất thực tế. Tuy nhiên, việc xác định thuế suất thực tế rất khó khăn và các quốc gia có nhiều cách khác nhau để tính thuế suất thực tế.

Thông thường, thuế suất trong luật thuế được qui định theo các hình thức sau:

–   Thuế suất luỹ tiến: là lọai thuế suất mà nó sẽ tăng lên dần dần cùng nhịp tăng tiến của đối tượng chịu thuế. Thuế suất này thường áp dụng khi xây dựng thuế thu nhập cá nhân. Theo đó, khi thu nhập chịu thuế tăng thì thuế suất cũng tăng. Vì vậy nó có ưu điểm là điều tiết mạnh thu nhập từ người giàu. Thu được nhiều cho ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, để thiết kế biểu thuế lũy tiến thì tốn nhiều công sức và biểu thuế này khá phức tạp. Có một số ý kiến cho rằng loại thuế suất này không khuyến khích người dân làm giàu.

–   Thuế suất lũy thoái: trái với thuế suất lũy tiến, thuế suất sẽ giảm khi đối tượng chịu thuế càng tăng. Loại thuế suất này thường được sử dụng để khuyến khích tạo thêm đối tượng chịu thuế (nếu đối tượng chịu thuế là thu nhập, tài sản) hoặc khuyến khích tăng việc tiêu dùng một lọai hàng hóa, dịch vụ nào đó. Nhưng lọai thuế suất này thường được xem là ít công bằng và cũng rất phức tạp khi xây dựng và áp dụng.

–   Thuế suất cố định: Thuế suất được cố định theo tỉ lệ phần trăm hoặc cố định bằng một số tiền. Thuế suất cố định thường đơn giản và khi thiết kế biểu thuế suất cũng ít phức tạp. Tuy nhiên, thuế suất cố định bằng một số tiền thường ít được áp dụng ở những quốc gia mà ở đó tỉ lệ lạm phát cao. Trong thực tế, đối với một số đối tượng, để tránh thất thu thuế cơ quan thuế có thể ấn định mức thuế cho tổ chức, cá nhân. Việc ấn định thuế thường dựa trên các tiêu chí như tài liệu kê khai của cá nhân, tổ chức, cơ sở dữ liệu của cơ quan thuế, tham khảo ý kiến của các cơ quan có liên quan và phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt. Bản chất của mức thuế được ấn định khác với thuế suất cố định29.

Một đạo luật thuế có thể quy định một mức thuế suất duy nhất hoặc nhiều mức thuế suất khác nhau tùy thuộc vào thái độ của nhà nước. Việc quy định một mức thuế suất duy nhất sẽ tạo điều kiện dễ dàng trong việc áp dụng cho cả đối tượng nộp thuế và các cơ quan thu thuế, thể hiện sự công bằng giữa các đối tượng nộp thuế30. Trong thực tế, việc xác định các đối tượng chịu thuế cho từng mức thuế là rất phức tạp, ví dụ như có những hàng hóa mà tính

năng sử dụng của nó vừa có thể được xếp vào nhóm thuế suất này hoặc có thể xếp vào nhóm thuế suất khác, hoặc do sự phát triển, giao lưu kinh tế quốc tế, các nguồn thu nhập của các cá nhân, tổ chức trong xã hội ngày càng phong phú, đa dạng vì vậy mà công tác phân loại trở nên phức tạp và khó khăn hơn.

Tuy nhiên, theo các tác giả của giáo trình Luật thuế, Đại học Luật Hà Nội thì mức thuế suất duy nhất lại không thể hiện được sự thu hút hay hạn chế hay hạn chế đối với lĩnh vực, ngành nghề, hàng hóa, dịch vụ khác nhau31.

Ngoài ra, một số luật thuế còn quy định phương pháp tính thuế ví dụ như luật thuế giá trị gia tăng. Phương thức tính thuế được hiểu là những cách thức được pháp luật quy định cụ thể cho từng lọai thuế để có được một số tiền nhất định dựa trên những căn cứ tính thuế đã quy định trước32.

21 Victor Thuronyi, Comparative Tax Law, Kluwer Law International, 2003, tr.17,18

22 Học viện Tài chính, Giáo trình Quản lý tài chính công, Nxb Tài chính năm 2005, tr.112

23 Một số nhà nghiên cứu còn có quan điểm cho rằng khi tính toán chi phí, quốc hội cần xem xét chi phí của cả xã hội để bàn hành và thực hiện một luật thuế nào đó chứ không chỉ chú ý đến chi phí  mà nhà nước bỏ ra để thu thuế.

24 Học viện Tài chính, Giáo trình Quản lý tài chính công, Nxb Tài chính năm 2005, tr.111

25 Tuy nhiên, điều này rất khó thực hiện vì có loại thuế thì người nộp thuế cũng là người chịu thuế, có loại thuế người chịu thuế và người nộp thuế là hai đối tượng khác nhau. Thậm chí, trong cùng một loại thuế nhưng ở từng hoàn cảnh khác nhau, người nộp thuế có khi là người chịu thuế nhưng có khi không phải là người chịu thuế

26 Điều 7, Luật Quản lý thuế ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2006, có hiệu lực từ ngày 01/01/2007

29 Xem điều 36, 37, 38, 39, 40, 41 của Luật Quản lý thuế ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2006, có hiệu lực từ ngày 01/01/2007

30 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật thuế Việt Nam, NXB Tư pháp năm 2007, tr. 49


Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trên:
  • các yếu tố cơ bản của chính sách thuế
  • khái niệm người chịu thuế và người nộp thuế
  • ,