Nhược điểm của cấp phép kinh doanh

Đánh giá bài viết

 

Vì tiền bản quyền được xác định dựa trên doanh số bán ra của bên nhận phép nên lợi nhuận của doanh nghiệp cấp phép phụ thuộc vào doanh thu và năng lực của công ty nhận phép. Một đối tác yếu kém  sẽ  không thể đem lại doanh thu đáng kể. Doanh nghiệp cấp phép cũng bị hạn chế trong việc kiểm soát các hình thức sử dụng tài sản của mình vì đây chỉ là một phương thức thâm nhập có mức kiểm soát trung bình. Nếu bên nhận phép không thận trọng trong việc sử dụng tài sản như sản xuất các sản phẩm không đạt tiêu chuẩn thì danh tiếng của bên cấp phép sẽ bị tổn hại. Vì vậy các công ty dày dạn kinh ngiệm thường đòi hỏi các đối tác nhận phép nước ngoài phải đạt được một số tiêu chuẩn chất lượng tối thiểu. Chẳng hạn, công ty  Anheiser-Busch Brewing có trụ sở tại Hoa Kỳ tiếp thị bia Budweiser của mình tại Nhật thông qua một thỏa thuận cấp phép với hãng Kirin, một công ty ủ bia có tiếng trong nước. Công ty vốn là một trong những hãng ủ bia danh tiếng tại Nhật này – Kirin đã phải sản xuất bia Bud theo những tiêu chuẩn rất khắt khe của Anheiser-Busch‟s.

Trong trường hợp công ty nhận phép đạt được nhiều thành công, nhà cấp phép chắc hẳn sẽ mong ước giá như mình tham gia thị trường bằng một phương thức khác có khả năng sinh lời nhiều hơn. Đây chính là tình huống mà hãng Disney gặp phải khi nó phát triển Disneyland Tokyo thông qua một thỏa thuận cấp phép với một đối tác Nhật Bản. Khi công viên giải trí thu được nhiều thắng lợi hơn hãng này mong đợi, ban lãnh đạo của Disney đã ước rằng giá như họ tự mình phát triển Disneyland Tokyo. Hãng Televisa của Mexico cũng gặp phải tình huống tương tự. Nhà sản xuất chương trình truyền hình bằng tiếng Tây Ban Nha lớn nhất này – Televisa đã chọn kí hợp đồng cấp phép với công ty Univision có trụ sở tại California để có thể tham gia thị trường Hoa Kỳ, nơi có tới hơn 35 triệu người sử dụng tiếng Tây ban Nha làm tiếng mẹ đẻ. Về phần mình, công ty Mexico chỉ nhận được 9 phần trăm từ doanh thu quảng cáo của Univision. Lợi nhuận thu được từ cấp phép thường thấp hơn nhiều so với lợi nhuận thu được từ các phương thức gia nhập xuất khẩu hay đầu tư trực tiếp nước ngoài. Ngoài ra, cấp phép không đảm bảo tiền đề cho sự mở rộng trong tương lai. Các chọn lựa trong việc quốc tế hoá của doanh nghiệp cấp phép nếu thực hiện bằng các phương thức khác cũng thường bị hạn chế trong các hợp đồng cấp phép.

Doanh nghiệp chủ cần phải đảm bảo những sở hữu trí tuệ có giá trị của mình sẽ không bị rơi vào tay các cá nhân hay các công ty có khả năng trở thành đối thủ của mình. Hình thức cấp phép thường được sử dụng nhiều trong các ngành công nghiệp mà ở đó những thay đổi về công nghệ diễn ra hàng ngày và tác động tới nhiều sản phẩm. Thay đổi công nghệ với tốc độ nhanh chóng đồng nghĩa với việc các công nghệ được cấp phép sẽ trở nên lỗi thời trước khi hợp đồng cấp phép hết hạn. Nếu không, trong trường hợp việc đánh mất kiến thức công nghệ hay các bí quyết kinh doanh khác vào tay đối thủ tiềm năng là một tổn thất đáng kể, doanh nghiệp đó không nên lựa chọn cấp phép làm phương thức để tham gia thị trường.

Vì cấp phép yêu cầu doanh nghiệp phải chia sẻ tài sản sở hữu trí tuệ với các công ty khác nên nguy cơ tạo ra các đối thủ trong tương lai là rất lớn. Đối thủ có thể sẽ tiếp tục khai thác những tài sản sở hữu trí tuệ của bên cấp phép để gia nhập thị trường ở các nước thứ ba hay tạo ra những sản phẩm khác biệt chút ít so với những sản phẩm quy định trong hợp đồng cấp phép. Các công ty nhận phép có thể sẽ tận dụng các bí quyết kinh doanh được cấp phép làm đòn bẩy để trở thành các đối thủ mạnh và cuối cùng trở thành những người dẫn đầu ngành. Kịch bản này đã từng diễn ra trong các ngành công nghiệp xe hơi, chip điện tử và điện dân dụng tại Châu Á khi các công ty Châu Âu chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp ở Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc.

Ví dụ, hãng Sony của Nhật Bản ban đầu được cấp phép công nghệ liên quan đến bóng bán dẫn từ nhà phát minh Bell Laboratories ở Hoa Kỳ. Bell đã tư vấn cho Sony cách sử dụng bóng bán dẫn để chế tạo máy trợ thính. Nhưng thay vào đó, Sony lại sử dụng công nghệ để tạo ra các đài thu bán dẫn nhỏ chạy bằng pin. Dựa vào lợi thế này, Sony và các công ty Nhật Bản khác đã nhanh chóng trở thành những người đi đầu trong ngành chế tạo đài thu bán dẫn. Hãng Bell đã bỏ lỡ một cơ hội vô cùng hiếm có. Sony sau đó đã trở thành công ty Nhật Bản đầu tiên có cổ phiếu niêm yết tại thị trường chứng khoán New York và trở thành một trong những hãng điện tử dân dụng lớn nhất trên thế giới.

Một ví dụ khác là việc công ty chế tạo đồ chơi của Hoa Kỳ Mattel cho phép nhà sản xuất đồ chơi Estrela của Braxin phân phối búp bê Barbie. Khi thoả thuận hết hiệu lực, Estrela đã phát triển một loại búp bê giống hệt búp bê Barbie, có tên là Susi và lượng bán ra của búp bê này vượt hẳn lượng bán của búp bê Barbie tại Braxin. Estrela sau đó đã cho ra mắt thành công búp bê Susi tại Argentina, Chile, Paraguay và Uruguay. Tại Nhật, Mattel tham gia một thoả thuận cấp phép với hãng sản xuất đồ chơi trong nước Takara. Công ty này sau đó đã thay đổi mẫu búp bê để phù hợp với sở thích của các bé gái Nhật Bản. Khi hợp đồng kết thúc, Takara tiếp tục bày bán búp bê với một cái tên khác là Jenny và trở thành đối thủ của Mattel tại thị trường đồ chơi lớn thứ hai trên thế giới này.