Nội dung của nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng

 

Điếu 64 Hiến pháp 1992 quy định: “Gia đình là tế bào của xã hội. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng. Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt. Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ”. Trên cơ sở đó, Luật hôn nhân và gia đình 2000 đã khẳng định nguyên tắc cơ bản đầu tiên là nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng. Nguyên tắc này được thể hiện cụ thể trong những quy định về kết hôn, thực hiện quan hệ vợ chồng, ly hôn…

Trong xã hội phong kiến, chế độ hôn nhân được xây dựng trên cơ sở chế độ chiếm hữu tư nhân vầ ruộng đất, đời sống vật chất và tinh thần của xã hội còn ở mức độ thấp. Chế độ hôn nhân phong kiến bảo vệ một cách tuyệt đối quyền của người gia trưởng mà một trong những nội dung của nó là thừa nhận và bảo vệ quyền đa thê. Trong xu thế phát triển của xã hội, mặc dù vẫn tiếp tục duy trì chế độ tư hữu, bóc lột, Nhà nước tư sản phải quy định chế độ hôn nhân và gia đình một cách dân chủ hơn. Chế độ đa thê bị bãi bỏ và thay vào đó là chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Nhưng do tính chất của những quan hệ kinh tế – xã hội tư bản, chế độ hôn nhân một vợ một chồng đó chỉ được thể hiện trên văn bản, còn trong thực tế, chế độ một vợ một chồng luôn luôn tồn tại bên trong nó những giả dối. Với việc biến những tư liệu sản xuất thành tài sản của xã hội, nhà nước xã hội chủ nghĩa đang dần tạo ra được những cơ sở kinh tế cho sự ổn định của chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Trong những điều kiện tiến bộ của xã hội; hôn nhân một vợ một chồng tồn tại vững chắc trên cơ sở tình yêu giữa nam và nữ “vì bản chát của tình yêu là không thể chia sẻ được cho nên hôn nhân dựa trên tình yêu giữa nam nữ, do ngay bản chất của nó là hôn nhân một vợ một chồng”.

Việc thực hiện chế độ hôn nhân một vợ một chồng là phù hợp với sự phát triển của kinh tế – xã hội xã hội chủ nghĩa và là một trong những cơ sở quan trọng đảm bảo sự bền vững của hôn nhân. Chính vì vậy, hôn nhân một vợ một chồng đã được xây dựng thành một trong những nội dung của nguyên tắc hiến định về hôn nhân và gia đình và được Luật hôn nhân và gia đình 2000 khẳng định là nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình (Điều 2). Bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ một chồng, Luật hôn nhân và gia đình: “Cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ” (Điều 4). Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng còn được cụ thể hóa trong các quy định về những trường hợp cấm kết hôn và được đảm bảo thực hiện trong những quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Nội dung của nguyên tắc hôn nhân mọt vợ một chồng là: chỉ những người chưa cơ vợ, chưa có chồng hoặc tuy đã có vợ, có chồng nhưng hôn nhân đó đã chấm dứt mới có quyền kết hôn. Việc kết hôn của họ phải với người đang không có vợ, không có chồng. Ngoài ra, để bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ một chồng, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng còn điều chỉnh cả hành vi chung sống như vợ chồng: chỉ những người đang không có vợ, có chồng mới có quyền chung sống như chồng, như vợ với người đang không có vợ, có chồng. Nội dung của nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng có liên quan đến một số vấn đề và cần được hiểu như sau:

– Người đang có vợ, có chồng là người đang tồn tại một quan hệ hôn nhân được xác định bằng giấy chứng nhận kết hôn hoặc hôn nhân thực tế (nam và nữ sống chung với nhau như vợ chồng, không đăng ký kết hôn nhưng vẫn được pháp luật thừa nhận quan hệ vợ chồng). Đó là trường hợp: nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng (không vi phạm các điều kiện kết hôn do luật định) trước ngày 3/1/1987 nhưng không đăng ký kết hôn. Những người đang ở trong các trường hợp kể trên thì bị Luật cấm kết hôn

– Những người đã có vợ, có chồng nhưng hôn nhân đã chấm dứt là người thuộc các trường hợp kể trên nhưng đã có bản án cho ly hôn của tào án có hiệu lực pháp luật, vợ (chồng) của họ đã chết hoặc bị tòa án tuyên bố là đã chết.

– Chung sống như vợ chồng là việc nam nữ coi nhau là vợ chồng, chung sống với nhau, chăm sóc giúp đỡ nhau, cùng nhau chăm lo đời sống chung. Theo TTLT số 01/2001/TTLT – TANDTC – VKSNDTC – BTP ngày 3/1/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát Nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội, được coi là nam và nữ đang sống chung với nhau như vợ chồng, nếu họ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau

+ Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận

+ Việc họ về chung sống vwois nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến

+ Họ thực sự chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng nhau xây dựng gia đình.

Thời điểm nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng là ngày họ tổ chức lễ cưới hoặc ngày họ về chung sống với nhau được gia đình (một hoặc cả hai bên) chấp nhận hoặc ngày họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến hoặc ngày họ thực sự bắt đầu chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.

Việc kết hôn vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng phải bị xử hủy theo Luật hôn nhân và gia đình, người vi phạm có thể bị xử lý về hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, do xuất phát từ tình hình xã hội nước ta, việc thi hành nguyên tắc một vợ một chồng có ngoại lệ trong một số trường hợp sau:

– Một người kết hôn với nhiều người khác trước ngày 3/1/1959 (ngày Luật hôn nhân và gia đình 1959 có hiêu lực). Trước khi có Luật hôn nhân và gia đình 1959, chúng ta chưa thực hiện được chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Cho nên, mặc dù việc thực hiện những quan hệ hôn nhân này không phù hợp với nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, nhưng vẫn được thừa nhận là có giá trị pháp lý.

– Ngày 25/03/1977, Hội đồng Chính phủ mới ban hành Nghị quyết 76/CP công bố danh mục 411 văn bản pháp luật áp dụng chung cho cả nước, trong đó có Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, ngày 25/031977 được coi là ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 có hiệu lực ở miền Nam Việt Nam. Những trường hợp kết hôn trước ngày 25/03/1977 trở về trước (ở miền Nam) thì dù có vi phạm chế độ một vợ một chồng, nhưng có hôn nhân thực tế thì chúng ta vẫn phải công nhận quan hệ hôn nhân của họ là hợp pháp.

– Đối với trường hợp cán bộ, bộ đội có vợ, có chồng trong Nam ra Bắc lấy vợ, lấy chồng khác. Theo Thông tư số 60 – TATC ngày 22/2/1978 của Tòa án Nhân dân tối cao, đây là trường hợp đặc biệt, là hậu quả của chiến tranh chứ không phải của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến. Phương châm giải quyết là thừa nhận việc chung sống tay ba. Nếu có mâu thuẫn và yêu cầu giải quyết thì tòa án có thể xử cho ly hôn mà không đặt ra vấn đề hủy việc kết hôn trái nguyên nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng mà pháp luật quy định, trừ trường hợp người tập kết đã có vợ (chồng) lừa dối là chưa có vợ (chồng) để người kia lầm tưởng nên mới đồng ý.


Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trên:
  • hôn nhân 1 vợ 1 chồng
  • giá trị hôn nhân một vợ một chồng
  • nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
  • trong xã hội pk nào hôn nhân dựa trên cơ sở
  • ,