Nội dung hoàn thiện hệ thống Báo cáo kế toán quản trị tại các công ty lâm nghiệp ở Việt Nam

thông tin cần thiết cho nhà quản trị DN, cho các cấp quản lý của Công ty. Do vậy hệ thống BCKTQT phải được tổ chức sao cho phù hợp nhất với đặc điểm của DN, theo yêu cầu quản lý và mục tiêu công tác quản lý của DN.

Qua phân tích đánh giá về thực trạng hệ thống báo cáo KTQT tại  các CTLN ở Việt Nam. Căn cứ vào những hạn chế của công ty về hệ thống BCKTQT của các công ty. Tôi đưa ra một số giải pháp hoàn thiện hệ thống BCKTQT như sau:

Giải pháp 1: Về việc phân chia các trung tâm trách nhiệm

Các nhà quản trị cần kiểm soát được thông tin hoạt động của các bộ phận trong Công ty. Tại các CTLN, các thông tin cần cung cấp bao gồm tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất của từng giai đoạn, tình hình thông tin lãi lỗ của từng sản phẩm, tình hình thực hiện chi phí của từng bộ phận, từng giai đoạn sản xuất… từ đó đưa ra các giải pháp, quyết định chương trình hành động phù hợp để điều hành quản lý DN.

Để kiểm soát được hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của từng bộ phận, từng khâu sản xuất thì CTLN nên phân chia thành các trung tâm trách nhiệm. Căn cứ vào tình hình thực hiện kế hoạch, tình hình sản xuất kinh doanh của từng trung tâm trách nhiệm, nhà quản trị DN căn cứ vào thông tin kế toán của các trung tâm trách nhiệm cung cấp để đánh giá hiệu quả hoạt động và trách nhiệm quản lý của từng trung tâm trách nhiệm. Cụ thể như sau:

– Phân cấp trung tâm trách nhiệm theo cấp quản lý. Với cách phân cấp này CTLN sẽ được phân thành 3 trung tâm trách nhiệm căn cứ vào cấp quản lý:

+ Trung tâm lợi nhuận là toàn bộ ban giám đốc, trung tâm này sẽ chịu trách nhiệm tự chủ và kiểm soát các khoản chi phí, doanh thu và chịu trách nhiệm về khả năng sinh lời cho toàn bộ DN.

+ Trung tâm chi phí là các đội cây giống, đội trồng rừng, phân xưởng chế biến. Trung tâm chi phí được được phân cấp tự chủ và kiểm soát về các khoản chi phí, tự chịu trách nhiệm về tình hình sản xuất của bộ phận mình.

+ Trung tâm doanh thu được phân cấp quản lý về tình hình và các chỉ tiêu liên quan đến doanh thu như phòng kinh doanh, bộ phận bán hàng…

Để thực hiện đánh giá hiệu quả và trách nhiệm quản lý của từng trung tâm trách nhiệm. sử dụng các chỉ tiêu như tỷ suất từng khoản mục chi phí, tỷ lệ sản phẩm hỏng, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của từng sản phẩm, từng bộ phận, từng trung tâm  trách nhiệm trong DN.

Với đặc điểm của DN lâm nghiệp là quy trình sản xuất dài, các quy trình công nghệ bao gồm khâu lâm sinh, khâu chăm sóc, khoanh nuôi bảo vệ rừng, khâu khai thác chế biến. Đặc điểm sản xuất của 3 khâu này khác biệt hoàn toàn, chi phí sản xuất và quy trình công nghệ khác nhau. Do đó những yêu cầu thông tin về từng trung tâm trách nhiệm là khác nhau. do vậy ta có thể phân cấp các trung tâm trách nhiệm và yêu cầu thông tin KTQT từng trung tâm như sau:

Căn cứ vào việc phân chia các trung tâm trách nhiệm và căn cứ vào nội dung công việc cụ thể của từng bộ phận trong DN,  Công ty cần thực hiện phân công công việc và gắn trách nhiệm từng nội dung công việc với từng bộ phận

– Các công ty lâm nghiệp  phân cấp trách nhiệm thành các trung tâm trách nhiệm như Phân xưởng là trung tâm chi phí, phòng kinh doanh là trung tâm doanh thu, Ban giám đốc là trung tâm lợi nhuận để từ đó thu thập thông tin BCKTQT theo từng cấp. Hoặc phân chia hoạt động kinh doanh của công ty thành các trung tâm trách nhiệm theo từng hoạt động của DN. Từ đó, xây dựng hệ thống BCKTQT theo trung tâm trách nhiệm nhằm tổng hợp số liệu và cung cấp thông tin theo sự phân cấp trách nhiệm của từng bộ phận.

Lập báo cáo trách nhiệm tương ứng với các trung tâm trách nhiệm

Căn cứ vào phân thành các trung tâm trách nhiệm, các công ty lâm nghiệp  thu thập thông tin KTQT từ các BCKTQT do các trung tâm trách nhiệm gửi về.

  • Mục đích báo cáo bộ phận: cung cấp thông tin về các dữ liệu tài chính theo các trung tâm trách nhiệm trong một bộ phận để báo cáo các hoạt động và đánh giá trách nhiệm của các nhà quản lý thông qua việc chỉ tính những khoản doanh thu và chi phí mà một nhà quản lý nào đó có thể kiểm soát được đối với bộ phận của mình.
  • Cơ sở lập: Các sổ kế toán chi tiết doanh thu và chi phí của từng bộ phận
  • Phương pháp lập: căn cứ vào các dữ liệu tài chính từ các hoạt động hàng ngày được ghi chép trong hệ thống kế toán, các khoản doanh thu và chi phí được tiến hành phân loại lại và báo cáo theo các trung tâm trách nhiệm quản lý cụ thể. Cần lưu ý là chỉ có các khoản doanh thu và chi phí mà nhà quản lý có thể kiểm soát mới được thể hiện trên báo cáo của một trung tâm trách nhiệm. Trong hệ thống kế toán trung tâm trách nhiệm, các báo cáo hoạt động được thiết kế cho các cấp độ quản lý khác Số lượng các cấp quản lý trong trung tâm trách nhiệm tùy thuộc vào cấu trúc tổ chức của DN. Một hệ thống kế toán trung tâm trách nhiệm cung cấp một báo cáo cho mỗi nhà quản lý và các nhà quản lý cấp thấp hơn báo cáo cho các nhà quản lý cấp cao hơn nên những chi phí và doanh thu giống nhau có thể xuất hiện trên nhiều báo cáo. Vì thế, khi dữ liệu hoạt động ở cấp độ thấp hơn nằm trong các báo cáo cấp cao hơn thì các dữ liệu đó được tóm lược lại. Ở mỗi bộ phận, báo cáo liệt kê các khoản mục doanh thu, chi phí thực tế nằm trong sự kiểm soát của người quản lý bộ phận và nó được so sánh với những chi phí dự toán. Sự so sánh này là một thước đo đánh giá trách nhiệm của nhà quản lý ở mỗi bộ phận.

Từ đó, tác giả đề xuất một số báo cáo bộ phận tương ứng các trung tâm trách nhiệm như sau:

– Trung tâm lợi nhuận cung cấp Báo cáo tình hình lợi nhuận của Công ty theo lĩnh vực, Báo cáo tổng hợp trích quỹ Công ty lâm nghiệp; Báo cáo một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp  Công ty lâm nghiệp (Phụ lục 22)

– Trung tâm doanh thu cung cấp Báo cáo phân tích tiêu thụ và lãi lỗ công ty theo sản phẩm. (Phụ lục 23)

– Trung tâm chi phí cung cấp Báo cáo giá thành theo khoản mục chi phí toàn bộ sản phẩm theo từng khâu; Định mức chi phí nguyên vật liệu, Định mức chi phí nhân công, Định mức chi phí sản xuất chung theo hoạt động: trồng rừng, giao khoán rừng, chế biến (Phụ lục 24).

Việc lập báo cáo trách nhiệm theo các trung tâm trách nhiệm giúp các nhà quản trị trong Công ty lâm nghiệp thu thập được thông tin đầy đủ và kịp thời với từng bộ phận trong Công ty. Mặt khác, lập Báo cáo trách nhiệm gắn trách nhiệm của từng bộ phận liên quan đến nội dung và lĩnh vực mình quản lý, từ đó nâng cao hiểu quả quản lý và hiểu quả cung cấp thông tin của các Báo cáo trách nhiệm.

Giải pháp 2: Thống nhất một số mẫu biểu về BCKTQT bắt buộc các CTLN phải lập. Đồng thời, tùy theo yêu cầu quản lý, đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng công ty để xây dựng các mẫu biểu phù hợp với công ty mình. Cụ thể như sau:

– Xây dựng hệ thống các báo cáo về định mức chi phí:

HIện nay việc xây dựng định mức về chi phí là thực sự cần thiết và quan trọng trong việc quản lý chi phí sản xuất. Nhất là khi mối quan hệ giữa Tổng công ty và các công ty không là quan hệ trực thuộc nữa mà là mối quan hệ Mẹ- con. Các CTLN phải tự chủ kinh tế, nhất là trong giai đoạn suy thoái kinh tế hiện này. Để kiểm soát chi phí thì các công ty phải xây dựng định mức sản xuất, kế hoạch sản xuất hàng kỳ để căn cứ vào đấy chi ra các khoản chi phí thực tế. Căn cứ để xây dựng các định mức là thông tin về chi phí tổng hợp được trong những năm trước, tài liệu kỹ thuật về gieo trồng, chăm sóc, chế biến sản phẩm.

Cụ thể xây dựng các định mức chi phí như sau:

– Định mức chi phí về khâu lâm sinh: bao gồm định mức về biến phí (được tính trên đơn vị sản phẩm) và định mức về định phí (được tính trên tỷ lệ về biến phí)

+ Định mức chi phí nguyên vật liệu chính. Được căn cứ vào từng loại cây giống, thời gian gieo hạt và chăm sóc cây giống, các loại phân bón chăm sóc và gieo trồng… Căn cứ vào khối lượng tiêu hao và giá cả dự kiến cho đơn vị nguyên vật liệu để tính ra khối lượng tiêu thụ cho một đơn vị sản phẩm. Việc xây dựng định mức nguyên vật liệu phải căn cứ vào quy trình kỹ thuật ươm giống từng loại cây trồng.

+ Định mức chi phí nguyên vật liệu phụ: Căn cứ vào đặc điểm của từng loại cây giống để chi ra các chi phí nguyên vật liệu cần thiết từ khâu làm đất, gieo hạt và chăm sóc đến khi đạt tiêu chuẩn xuất cây.

+ Định mức chi phí nhân công: Xây đựng định mức chi phí nhân công cho một khối lượng sản phẩm (bao gồm từ khâu làm đất, đóng bầu, cấy cây và chăm sóc) từ đó tính ra định mức chi phí tiền lương cho 1 đơn vị sản phẩm. Căn cứ để xây dựng định mức tiền lương là chi phí tiền lương cho một khối lượng sản phẩm thực tế của những năm gần nhất và chế độ tiền lương của Công ty và Nhà nước, thời gian thực tế cần thiết để hoàn thành khối lượng sản phẩm với điều kiện lao động cụ thể của Công ty.

+ Xây dựng định mức về chi phí sản xuất chung: căn cứ vào quy trình công nghệ và đặc điểm quản lý của đội sản xuất. Xây dựng định mức chi phí sản xuất chung theo tỷ lệ nhất định đối với chi phí trực tiếp.

Đối với hoạt động giao khoán, các CTLN chia khoán theo nội dung công việc bao gồm: Khoán hoạt động khai thác rừng trồng và khoán trồng rừng.

Đối với hoạt động khoán khai thác rừng trồng, CTLN cần xây dựng định mức giao khoán theo đúng thiết kế khai thác kỹ thuật, căn cứ vào đặc điểm rừng trồng, vị trí địa lý, …để xây dựng định mức khoán khai thác rừng trồng cho từng lô rừng, từng khoảnh rừng cụ thể.

Căn cứ vào định mức nhân công khai thác, Các CTLN cần xây dựng Định mức năng suất, điểm hòa vốn và sản lượng giao khoán khai thác cho 1 ha rừng trồng làm căn cứ tính giá thành và thanh toán cho bên nhận khoán (Bảng 3.1)

Đối với hoạt động giao khoán trồng, chăm sóc khoanh nuôi bảo vệ rừng

Xây dựng định mức chi phí khâu chăm sóc khoanh nuôi bảo vệ rừng: Thực tế hiện nay một số công ty lâm nghiệp cũng xây dựng định mức này để quản lý chi phí khoanh nuôi giao khoán cho các hộ dân. Căn cứ vào định mức giao khoán để lập hợp đồng giao khoán và là cơ sở thanh toán tiền giao khoán trồng rừng cho các hộ dân. Còn lại những Công ty mà không giao khoán chăm nuôi cho các hộ gia đình mà đội trồng rừng của Công ty tự bảo vệ chăm sóc khoanh nuôi rừng của công ty thì hầu như các công ty không lập định mức sản xuất bảo vệ rừng.

Tuy nhiên, Các công ty cần lập định mức chăm sóc khoanh nuôi bảo vệ rừng nhằm quản lý tốt các chi phí này, hạn chế phát sinh những chi phí không cần thiết. Việc lập định mức bảo vệ, chăm sóc khoanh nuôi thường căn cứ theo diện tích rừng trồng, độ tuổi rừng và đặc điểm địa bàn rừng cần chăm nuôi bảo vệ. Định mức cũng được xây dựng theo từng năm giao khoán, được chia cho bên Công ty và người nhận khoán  theo tỷ lệ đầu tư vốn.

Đồng thời căn cứ vào định mức giao khoán, định mức về sản lượng thu hoạch trên 1 ha trồng rừng, Định mức giao khoán trồng rừng tính được số tiền trả cho các hộ giao khoán trên 1 ha trồng rừng.

Cụ thể, các CTLN trước hết phải tính toán xây dựng được định mức về suất đầu tư bình quân cho 1 ha trồng rừng theo năm trồng rừng (Biểu số 3.2).

Căn cứ vào định mức suất đầu tư bình quân, các định mức về chi phí khai thác, vận chuyển, quản lý. Đồng thời từ giá bán ước tính của 1m3 gỗ rừng trồng, sản lượng trên 1 ha để  Các CTLN cần xây dựng Định mức năng suất, điểm hòa vốn và sản lượng giao khoán khai thác cho 1 ha rừng trồng làm căn cứ thanh toán cho bên nhận khoán (Biểu 3.1). Từ đó, Công ty lập ra định mức đầu tư của mỗi bên trên 1 ha rừng (Biểu 3.2)

– Xây dựng hệ thống báo cáo về dự toán sản xuất kinh doanh

Hiện nay, Các CTLN đã lập dự toán kế hoạch một số nội dung như: Kế hoạch sản xuất, kế hoạch doanh thu nhưng chủ yếu là số liệu dự toán tổng hợp, căn cứ vào số liệu kỳ trước để lập cho kỳ kế hoạch, không căn cứ vào thực tế và đặc điểm của kỳ này. Do vậy kế hoạch hay dự toán của Công ty chưa xây dựng cụ thể, đồng bộ.

Do vậy các công ty nên xây dựng đồng bộ các dự toán sản xuất kinh doanh, tùy thuộc vào mục tiêu của DN để xây dựng  và thiết kế mẫu báo cáo cho phù hợp.

Công ty nên căn cứ vào mục tiêu lợi nhuận, định mức về chi phí sản xuất, thông tin về tình hình SXKD của những năm vừa qua, dự báo về giá cả nguyên vật liệu, nhân công, dự báo về giá cả, tình hình tiêu thu….Các DN nên tiến hành xây dựng hệ thống dự toán SXKD đầy đủ, khoa học và bám sát thực tiễn.

Cụ thể các DN nên xây dựng hệ thống dự toán sau:

– Kế hoạch về tình hình tiêu thụ các loại sản phẩm trong năm kế hoạch, số lượng sản phẩm gỗ khai thác, số diện tích trồng rừng mới và số diện tích khai thác trong năm kế hoạch.

– Dự toán về chi phí sản xuất trong năm kế hoạch, giá thành kế hoạch cho từng loại sản phẩm, từng khâu sản xuất, chi phí bán hàng, chi phí quản lý DN.

– Dự toán về số lượng dự trữ và mua sắm nguyên vật liệu, số lượng thành phẩm sản xuất hoàn thành và số lương sản phẩm dự trữ.

– Dự toán về nhu cầu sử dung lao động và tình hình trả lương cho công nhân viên.

– Dự toán về giá cả và doanh thu kỳ kế hoạch để từ đó dự toán được kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ của DN.

– Dự toán về các khoản thuế phải nộp cho ngân sách nhà nước, dự toán tình hình trích quỹ trong DN.

Dự toán về tình hình công nợ và trả nợ vay trong DN, đặc biệt là hình hình thanh toán khoản nợ vay của Tổng công ty giấy.

Việc lập dự toán được xây dựng theo từng trung tâm trách nhiệm theo từng cấp từ thấp tới cao. Dự toán xây dựng từ các trung tâm chi phí bao gồm phân xưởng, đội sản xuất, căn cứ vào định mức đã được xây dựng để lập dự toán; Sau đó đến các trung tâm doanh thu bào gồm phòng kế hoạch kỹ thuật và phòng tài chính kế toán; Cuối cùng Trung tâm lợi nhuận lập dự toán về kết quả hoạt động kinh doanh của toàn công ty và tình hình trích quỹ trong toàn công ty.

Trong quá trình lập dự toán, các trung tâm trách nhiệm nên tính toán cả những rủi ro sản xuất, tiêu thụ, tình hình biến đổi giá cả nguyên vật liệu, giá bán sản phẩm…

Việc thiết kế các mẫu biểu báo cáo dự toán phải tùy thuốc vào nội dung báo cáo cần phản ánh và phải thống nhất với báo cáo thực hiện. Đồng thời trên báo cáo ngoài cột số liệu, kế hoạch, dự toán thì cần thiết kế thêm các cột số liệu năm trước, cột so sánh số liệu kế hoạch dự toán kỳ kế hoạch với số liệu thực tế kỳ trước để nhà quản trị thấy được số liệu chỉ tiêu mà nhà quản trị đề ra cho năm kế hoạch đã được thể hiện đầy đủ trong dự toán hay chưa?

Cụ thể, tác giả đưa ra Mẫu báo cáo Dự toán một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp (Phụ lục 17) và mẫu Báo cáo dự toán giá thành từng loại sản phẩm năm (Phụ lục 18).

Giải pháp 3: Hoàn thiện hệ thống BCKT thực hiện

BCKTQT thực hiện được thực hiện trên cơ sở tổng hợp số liệu từ hệ thống sổ KTQT, định mức và dự toán chi phí sản xuất kinh doanh. Các báo cáo này phải được lập một cách đầy đủ kịp thời theo yêu cầu của từng cấp quản trị và nhu cầu sử dụng thông tin của từng cấp quản trị.

Hiện nay các công ty lâm  nghiệp có lập BCKTQT thực hiện nhưng nội dung, phương pháp lập, trình tự thời gian lập và tổ chức hệ thống BCKTQT chưa đáp ứng được yêu cầu và giúp ích được nhiều cho nhà quản trị DN.

Để hoàn thiện hợn việc cung cấp thông tin KTQT phục vụ cho việc ra quyết định của nhà quản trị, tác giả đưa ra một số định hướng hoàn thiện hệ thống BCKTQT như sau:

– Các công ty cần bổ sung và hoàn thiện các báo cáo về tình hình thực hiện kế hoạch mua, dự trữ, và sử dụng nguyên vật liệu: báo cáo tình hình nhập xuất, tồn nguyên vật liệu về cả số lượng, chất lượng, chủng loại nguyên vật liệu. Chủ yếu ở nguyên vật liệu ở đây là gỗ keo và gỗ bạch đang khai thác từ rừng nguyên liệu để đưa vào chế biến sản phẩm gỗ nguyên liệu. tình hình thực hiện định mức nguyên vật liệu. Tham khảo mẫu Báo cáo tình hình nhập xuất tồn (Phụ lục 27).

– Hoàn thiện các báo cáo về tình hình quản lý và sử dụng lao động, tình hình phân bổ chi phí tiền lương liên quan đến giá thành sản phẩm và chi phí phát sinh ở các bộ phận khác. Hiện nay các công ty đều lập bảng thanh toán lương và căn cứ vào bảng thanh toán lương để hạch toán tiền lương, Chưa lập bảng phân bổ tiền lương và báo cáo so sánh dự toán tiền lương với thực tế.

– Công ty nên xây dựng hệ  thống báo cáo chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm theo  dạng  định phí và biến  phí, Báo cáo chi phí bán hàng, chi phí quản lý DN (chi tiết theo nội dung định phí và biến phí). Từ đó nhà quản trị có thể phân tính được mức độ ảnh hưởng của các loại chi phí đến giá thành sản phẩm (Biểu 3.3).

Để thực hiện lập Bảng tính giá thành dạng lãi trên biến phí thì các CTLN phải phân chia các chi phí theo dạnh định phí và biến phí. Sản phẩm của các CTLN bao gồm sản phẩm lâm sinh như rừng trồng tính theo diện tích hoặc trữ lượng gỗ cây đứng, sản phẩm khai thác tính theo m3 gỗ đã khai thác, sản phẩm chế biến tính theo đơn vị mà m3 hoặc sản phẩm. Với mỗi sản phẩm khác nhau tiêu chí phân loại định phí và biến phí khác nhau.

Cụ thể, với sản phẩm lâm sinh là rừng trồng, đơn vị tính là trữ lượng gỗ cây đứng (ster). Tiêu chí phân loại căn cứ vào giá trị chi phí thay đổi hoặc không thay đổi theo trữ lượng gỗ cây đứng. Phân loại chi phí trồng rừng là biến phí hay định phí được thể hiện Phụ lục 31.

Ngoài ra các công ty cần thiết phải lập các BCKTQT khác nhằm quản lý chặt chẽ và có hệ thống về hình hình tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh như sau:

– Báo cáo về tình tình công nợ phải thu và phải trả. Báo cáo này cần được tổng hợp và cung cấp thường xuyên về tình hình công nợ khách hàng, thời hạn nợ.

– Báo cáo về tình hình tăng giảm tồn quỹ tiền mặt, tiền gửi ngân hàng.

– Báo cáo về tình hình các khoản chi phí dự phòng….

Nhìn chung, tùy thuộc vào đặc điểm kinh doanh, tùy thuộc vào yêu cầu thông tin của DN, các chỉ tiêu trên BCKTQT thực hiện cần được thiết kế phù hợp với nội dung cần báo cáo và tên báo cáo; nhất quán với chi tiêu trên báo cáo kế hoạch, dự toán và thực tế kỳ trước. Các cột, các nội dung của BCKTQT thực hiện cần được thiết kế phù hợp với nội dung của từng báo cáo, tên báo cáo đảm bảo cung cấp thông tin hữu ích đầy đủ cho các cấp quản trị.

Giải pháp 4: Hoàn thiện các báo cáo phân tích và tư vấn:

Chức năng nhiệm vụ của Kế toán không chỉ cung cấp thông tin kế toán  mà con phân tích các thông tin kế toán về tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của đơn vị để từ đó nhà quản trị DN nắm được thông tin đầy đủ để đưa ra các quyết định kinh tế tài chính cụ thể, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh, tăng lợi nhuận cho DN. Các thông tin sau phân tích được cung cấp cho các nhà quản trị DN dưới dạng bảo biểu, đồ thị, văn bản… giúp họ nắm bắt được tình hình thực tế cũng như dự báo tương lai, phát hiện những vấn đề cần điều chỉnh, kiểm tra nhằm tối ưu hóa các giải pháp.

Thực tế hiện nay, Các công ty đều không thực hiện lập các báo cáo phân tích, chưa phân tích tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh so với dự toán, kế hoạch, chưa thực hiện phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận cũng như phân tích các quan hệ cung cầu của thị trường… Để từ đó căn cứ vào kết quả phân tích nhà quản trị đưa ra các quyết định kinh tế, lựa chọn các phương án sản xuất kinh doanh tối ưu.

Thực tế này xuất phát từ nhiều lý do, nhưng chủ yếu là do trình độ quản lý, công nghệ quản lý của nhà quản trị, trình độ chuyên môn của kế toán trong DN và do nhu cầu sử dụng thông tin của nhà quản trị chủ yếu là các thông tin thực hiện, nhu cầu cạnh tranh sản phẩm về giá chưa thực sự gay gắt. Do vậy, việc phân tích, lập sử dụng thông tin KTQT trong báo cáo phân tích chưa được thực hiện.

– Xây dựng hệ thống báo cáo phân tích liên quan đến tình hình thực hiện các dự toán, kế hoạch về hoạt động SXKD và các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện kế hoạch, dự toán đó.

So sánh số liệu thực tế thực hiện với số liệu dự toán, kế hoạch và so sánh với số liệu cùng kỳ năm trước theo chiều ngang và theo chiều dọc cả về số tuyệt đối và số tương đối. Từ đó chỉ ra các nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình thực hiện kế hoạch dự toán của toàn DN. Các nội dung cần lập báo cáo phân tích bao gồm:khối lượng sản xuất và tiêu thu từng loại sản phẩm: gỗ keo vanh, keo A và bạch đàn…; Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm; chi phí bán hàng chi phí quản lý DN; tình hình doanh thu và lãi lỗ…( Phụ lục số 28).

Báo cáo phân tích liên quan đến mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận.  Thông  qua báo cáo về biến phí định phí, sản lượng tiêu thụ và doanh thu từng loại sản phẩm, kế toán quản trị xác định các chỉ tiêu về biến phí đơn vị bình quân, định phí, giá bán đơn vị bình quân… nhằm cung cấp thông tin liên quan đến mối quan hệ chi phí, khối lượng, lợi nhuận giúp cho nhà quản trị ứng dụng trong việc phân tích mối quan hệ đó  để đưa ra phương án sản xuất tối ưu nhất đối với từng loại sản phẩm (Phụ lục số 29).