Nội dung lý thuyết đại diện và cách vận dụng

Lý thuyết đại diện hay còn gọi là lý thuyết ủy nhiệm đã xây dựng đầu tiên bởi Berle và Means (1932), sau này được Jensen & Meckling (1976) phát triển thêm.

Theo Berle và Means (1932), sự tách biệt giữa quyền sở hữu của cổ đông và  chức năng kiểm soát của nhà quản trị đem lại rủi ro, bởi sự tách biệt này có thể dẫn tới việc các nhà quản trị chuyên nghiệp sẽ có những hành động gây thiệt hại cho chủ sở  hữu tài sản nhằm đem lại lợi ích cho bản thân. Vì vậy, Berle và Means (1932) cho rằng cần phải có một giải pháp đáng tin cậy để bảo vệ các cổ đông và giúp các cổ đông có  thể đánh giá hành vi của nhà quản lý. Điều này đã tác động mạnh mẽ đến việc đòi hỏi các thông tin về kết quả hoạt động kinh daonh cần được công bố rộng rãi dưới hình  thức các báo cáo kế toán, BCTC.

Lý thuyết ủy nhiệm của Jensen & Meckling (1976) cho rằng do quyền sở hữu và quyền điều hành có sự tách biệt, đặc biệt đối với CTNY, nên các nhà quản lý (bên được  ủy nhiệm) – là những người có đủ năng lực để sử dụng và quản lý vốn một cách hiệu quả cho các cổ đông thay vì phục vụ lợi ích của các cổ đông (bên ủy nhiệm) thì lại thực hiện các hành vi tư lợi, trong đó có hành vi gian lận trên BCTC của các CTNY.

Chính vì có sự đối nghịch về lợi ích trong mối quan hệ này mà đã làm phát sinh ra một loại chi phí gọi là chi phí đại diện. Đó là chi phí  dùng để duy trì mối quan hệ   đại diện một cách hiệu quả, gồm: chi phí ràng buộc, chi phí giám sát và chi phí cơ hội. Chi phí giám sát là chi phí của chủ sở hữu trả cho việc giám sát những hành vi của nhà quản lý (như là chi phí kiểm toán). Tuy nhiên, đây là chi phí do nhà quản lý gánh chịu  từ các khoản như: tiền lương, tiền thưởng và điều này sẽ làm cho các ưu đãi khác của  họ sẽ bị điều chỉnh nhằm bù đắp những chi phí này (Fama và Jensen, 1983). Bell & Carcello (2000) cho rằng, quyền sở hữu và quyền quản lý trong các CTNY có sự tách biệt, điều này sẽ nảy sinh những hành vi tư lợi của những người đại diện. Trái  với  mong đợi là tối đa hóa lợi ích của người ủy nhiệm thì người đại diện đôi khi lại có những mục đích riêng và vì hướng đến mục đích đó mà lại tiến hành điều chỉnh lợi nhuận. Hành động gian lận này làm cho BCTC mất đi độ tin cậy, trung thực nên sẽ không còn cung cấp được thông tin hữu ích cho người cần sử dụng như cổ đông, nhà đầu tư, chủ nợ, các nhà phân tích tài chính…

Vận dụng lý thuyết vào nghiên cứu

Trong công ty thuộc sở hữu tư nhân, quyền sở hữu và quyền quản lý tài sản thường là một nên các công ty này ít chịu áp lực về công bố thông tin ra bên ngoài, những thủ thuật kế toán làm thay đổi các con số kế toán ít khi xuất hiện. Ngược lại, trong công ty cổ phần, các quan hệ đại diện là nguồn gốc,  động lực cho các hành vi  gian lận BCTC (Fama và Jensen, 1983; Beatty và cộng sự, 2002).

Trên TTCK, các cổ đông là chủ sở hữu công ty cổ phần, tuy vậy quyền sở hữu lại tách rời quyền quản lý, các cổ đông ủy nhiệm cho nhà quản lý thay mình sử dụng vốn để kinh doanh. Nhiều nghiên cứu ứng dụng lý thuyết đại diện để giải thích tại sao các nhà quản lý doanh nghiệp lại có những hành vi đi ngược lại với quyền lợi của cổ đông và dẫn tới việc họ có những can thiệp và tác động chủ quan mang tính cơ hội tới việc ghi nhận lãi lỗ và công bố thông tin kế toán (Charfeddine và cộng sự, 2013; Fathi, 2013).

Hành vi gian lận BCTC thực chất là che giấu thông tin, cung cấp thông tin sai lệch giữa một bên là nhà quản lý và một bên là các nhà đầu tư (Healy và Wahlen,  1999). Lý thuyết đại diện cũng là cơ sở để giải thích cho tình trạng thông tin bất cân xứng giữa nhà quản lý doanh nghiệp và các cổ đông khiến cho rủi ro thông tin tăng lên (Charfeddine và cộng sự 2013; Fathi, 2013).

Luận án tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi gian lận BCTC, vì vậy, để giải thích cho hành vi hành vi gian lận BCTC và che giấu thông tin, đi ngược lại với quyền lợi của cổ đông (những người chủ doanh nghiệp) thì lý thuyết đại diện là một cơ sở lý thuyết nền tảng để luận án có những lý giải phù hợp. Ngoài ra, lý thuyết đại diện cũng là cơ sở lý thuyết  quan trọng gợi ý cho việc làm thế nào để hạn chế những tiêu  cực của quan hệ đại diện. Những thỏa thuận hợp đồng ký kết với các doanh nghiệp    như là tiền bồi thường của nhà quản lý, các thỏa ước về nghĩa vụ, danh tiếng của nhà quản lý, sự cố gắng của nhà quản lý đối với việc củng cố vị trí của mình đều tác động đến hành vi quản trị. Điều này cũng tác động đến thông tin được trình bày trên BCTC. Nhà quản lý có thể tác động đến những con số trên BCTC hoặc tác động làm tăng lợi nhuận hoặc giảm lỗ (Watts and Zimmerman, 1978). Như vậy,  đặc tính HĐQT, mục  tiêu tài chính có một tác động rõ rệt đến hành vi gian lận BCTC của CTNY (Beneish, 1999; Chen, 2005). Danh tiếng có thể làm cho nhà quản lý của một CTNY ảnh hưởng đến tính khách quan của thông tin trên BCTC và lợi ích của những bên liên quan đến CTNY. Điều này hàm ý rằng danh tiếng của nhà quản lý sẽ có thể tác động bất lợi đến lợi ích của CTNY (Smith và cộng sự , 2005). Lý thuyết này một lần nữa khẳng định  Ban Giám đốc có động cơ gây ra hành vi gian lận số liệu trên BCTC. Do đó rất cần có một HĐQT hiệu quả để giám sát hoạt động của Ban Giám đốc. Lý thuyết này củng cố thêm vai trò quan trọng của HĐQT từ việc giám sát hoạt động của Ban Giám đốc cũng như sự ảnh hưởng gián tiếp của HĐQT đến chênh lệch số liệu trên BCTC.

Lý thuyết đại diện và lý thuyết thông tin bất đối xứng là căn cứ để giải thích    cho hành vi gian lận BCTC và các nhân tố tác động tới hành vi gian lận BCTC như thế nào.  Lý thuyết đại diện giúp tác giả hình thành nên ý tưởng về tác động của các nhân   tố liên quan đến đặc tính HĐQT của CTNY, việc giám sát bên ngoài về các hoạt động của BGĐ; mục tiêu tài chính tác động đến hành vi gian lận BCTC của các CTNY    trong giả thuyết nghiên cứu ở các chương tiếp theo.