Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước ở địa phương

Căn cứ quy định Luật NSNN năm 2006, Nghị định số   02    ngày  26/12 2012 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật NSNN, về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa Trung ương và địa phương (các cấp NS  trên địa bàn tỉnh).

Luật NSNN năm 2015 quy định: quyết định việc phân cấp nguồn thu (đã bỏ khoản thu phân chia để không gây phức tạp trong việc phân chia), nhiệm vụ chi giữa các cấp chính quyền địa phương phù hợp với phân cấp quản lý KT-XH, quốc phòng, an ninh và trình độ quản lý của mỗi cấp trên địa bàn”.

Quá trình tổ chức thực hiện dự toán thu, chi NSNN. Việc tổ chức chấp hành dự toán NSNN được thực hiện bằng nhiều biện pháp kinh tế xã hội như thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển sản xuất. lưu thông, phân phối… Xét ở góc độ phân cấp quản lý NSNN, việc chấp hành dự toán thu chi NSNN là việc phân định, quyền hạn, trách nhiệm giữa các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ thu, chi của NSNN. Đối với vấn phân cấp quản lý NSNN trong khâu lập dự toán có những nội dung sau:

Cơ quan thu NSNN bao gồm:

(1) Ngành thuế;

(2) Ngành hải quan;

(3) Các cơ quan được sự ủy quyền của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

(4) Các quỹ tài chính và đơn vị hành chính sự nghiệp được Chính phủ cho phép thành lập và được Bộ trưởng tài chính ủy quyền thực hiện nhiệm vụ thu.

Cơ quan NSNN thu-chi ở địa phương có trách nhiệm lập kế hoạch thu, thu thập thông tin số liệu thống kê đầy đủ, tính toán chính xác và đảm bảo tính công bằng, minh bạch và công khai, việc lập kế hoạch NSNN sẽ căn cứ vào kết quả và xử lý được nhược điểm trong tổ chức dự toán NS những năm qua tạo sự linh hoạt về tài chính, ngân sách; việc xây dựng dự toán thu trong năm ngân sách phải tính chi tiết, đầy đủ, rõ rang và kịp thời mà căn cứ vào các nguồn thu đã có và nguồn thu ổn định là chính trên cơ sở phát triển nền kinh tế quốc dân; chú trong nguồn thu chưa thu được đầy dủ còn nợ đọng thuế trong thời gian qua gồm cả nguồn thu phát sinh mới và các nguồn thu khác chưa được khai thác; còn về lập dự toán chi NS hàng năm các đơn vị phải tính chi tiết theo nhu cầu cần thiết thực tế, hiệu quả, đúng mục đích và theo mục lục ngân sách NN, đúng theo pháp luật trên cơ sở khả năng thu NS thực tế theo đó việc chi cũng phải phù hợp với chiến lược, chính sách ưu đãi của ngành và địa phương đặc biệt chú trọng chính sách tiết kiểm chống lãng phí;

Ngoài ra còn có nhiệm vụ tuyên truyền, hướng dẫn về văn bản pháp luật của ngành tài chính cho các đối tượng có nghĩa vụ nộp ngân sách, tăng cường bồi dưỡng về nghiệp vụ chuyên môn nhằm nâng cao trình độ, chất lượng công việc và tăng các buổi tuyên truyền hướng dẫn phổ biến cho người dân; tận tình chỉ hướng, hướng dẫn, giải đáp thắc mắc cho dân; thành lập bộ phân tuyên truyền hỗ trợ người dân; tổ chức, quản lý khoản thu thuế, hải quan, công sản, phí, lệ phí khác và các khoản thu khác đúng quy định của pháp luật, đầy đủ, kịp thời, công khai và minh bạch; phân loại rõ khoản thu địa phương  thu như: thu công sản phải tách rõ cho thấy khoản thu như thu tài nguyên, thu tô nhượng đất, thu khoáng sản, thu tiền thuê đất và tài sản cố định của Nhà nước, phí khai thác tài nguyên, thu từ tịch thu và các khoản thu khác;  các khoản thu từ quản lý và phát triển doanh nghiệp quốc doanh gồm cả bảo hiểm phải tách rõ các khoản thu như thu phân chia lợi nhuận trong ngành năng lượng, khoáng sản, doanh nghiệp quốc doanh và thu từ dự án nhà máy thủy định khác, thu xử phạt và các khoản thu khác theo pháp luật quy định một cách nghiêm túc;

  • Phân cấp nguồn thu

Phân cấp nguồn thu giữa các cấp NSĐP được phân chia như sau:

– Nguồn thu NS  cấp tỉnh được hưởng 100%.

(1) TGGT, thuế tiêu thụ, thuế lợi tức và thu phân chia lợi nhuận dòng từ đơn vị doanh nghiệp của tỉnh quản lý;

(2) Phí sử dụng đất, thuê đất, giao quyền sử dụng đất và chuyển quyền sử dụng đất, đăng ký thuế, thuế thu nhập cá nhân;

(3) Thu từ tô nhượng khai thác đá, đất cát, đất đỏ, đất đen;

(4) Thu tiền thuê nhà, thuê đất và các tài sản khác của tỉnh quản lý;

(5) Thu từ các quỹ Nhà nước của tỉnh quản lý;

(6) Thu phí và lệ phí của tỉnh quản lý;

(7) Thu từ tiền phạt và bán tịch thu của tỉnh quản lý;

(8) Thu từ huy động vốn và đóng góp cá nhân, pháp nhân và các tổ chức của tỉnh quản lý;

(9) Thu viện trợ không hoàn lại từ nước ngoài của tỉnh quản lý;

(10) Thu khác theo pháp luật.

– Nguồn thu NS  cấp huyện được hưởng NS 100%.

(1) TGGT, thuế tiêu thụ, thuế lợi tức và thu phân chia lợi nhuận dòng từ đơn vị doanh nghiệp của Huyện quản lý;

(2) Thuế thu nhập, thuế khoán, thuế tem của Huyện quản lý;

(3) Phí sử dụng đất, thuê đất, giao quyền sử dụng đất và chuyển quyền sử dụng đất của tỉnh quản lý;

(4) Thu từ tô nhượng khai thác đá, đất cát, đất đỏ, đất đen của Huyện quản lý;

(5) Thu tiền thuê nhà, thuê đất và các tài sản khác của Huyện quản lý;

(6) Thu phí và lệ phí của Huyện quản lý;

(7) Thu từ tiền phạt và bán tịch thu của Huyện quản lý;

(8) Thu từ huy động vốn và đóng góp cá nhân, pháp nhân và các tổ chức của Huyện quản lý;

(9) Thu khác theo pháp luật.

Trước năm 2015 Việc quy định tỷ lệ (%) phân chia giữa các cấp NS  đối với một số khoản thu như thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền sử dụng đất căn cứ vào đặc điểm KT-XH, tính chất khu vực của từng huyện. Còn các khoản thu phân chia theo tỷ lệ (%) giữa NS  Trung ương và NS  các cấp chính quyền địa phương (luật NSNN năm 2015 đã bỏ).

Nhìn vào bảng 2.8 có thể thấy tình hình phân cấp giữa NS cấp tỉnh và NS cấp huyện. Năm ngân sách 2010-2011 Thu NS huyện hưởng theo phân cấp so với thu SN cấp tỉnh được hưởng là 1,74%; năm NS 2011-2012 là 2,94%, năm NS 2012-2013 là 2,81%, năm NS 2013-2014 là 3,25%, năm NS 2014-2015 là 4,25% và năm 2015-2016 là 3,42%, năm NS 2016-2017 là 2,28%:

Như vậy chứng tỏ rằng chính quyền tất cả các huyện trong tỉnh hợp lại chỉ có nguồn thu của chính quyền tỉnh qua các năm NS. Vai trò chủ đạo của NS tỉnh rất rõ ràng nhưng qua các con số trên có thể thấy xu hướng tỉnh đã phân cấp thu cho NS huyện càng ngày càng tăng lên.

Phân cấp nguồn thu giữa NS cấp tỉnh và NS huyện (gồm 5 huyện) có một số điểm tương tự như phân cấp nguồn thu giữa NSTW và NSĐP (NS tỉnh); nhưng cũng có nhiều điểm khác như:

Thu NSNN phân cấp cho huyện không đủ tài trợ cho nhiệm vụ chi, huyện phải nhận kinh phí bổ sung từ NS cấp tỉnh khá lớn theo  bảng 2.12 ta thấy Số bổ sung từ NS cấp tỉnh so với số thu phân cấp cho NS huyện được hưởng hàng năm vẫn còn như: năm 2010-2011 là 12,180 tỷ kíp, năm  2011- 2012 là 23,990 tỷ kíp, năm  2012-2013 là 37,307 tỷ kíp, năm 2013-2014 là 33,137 tỷ kíp, năm 2014-2015 là 49,951 tỷ kíp, năm 2015-2016 là 48,418 tỷ kíp, năm 2016- 2017 là 45,42 tỷ kíp. Như vậy, nếu so sánh tương đối giữa số bổ sung cho NS huyện với số thu NS huyện hưởng theo phân cấp thì tỉ lệ này giảm dần. Đây là một xu hướng tích cực, mức hỗ trợ của tỉnh so với khả năng thu của huyện giảm dần. Đồng thời khả năng thu tăng khá là một dấu hiệu tích cực trong tác động của phân cấp quản lý NSNN đến kinh tế huyện.

Quy mô của các khoản bổ sung có mở rộng nhanh đã có tác động tích cực trong việc  thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của huyện.

Tóm lại, tốc độ tăng của các khoản thu NS huyện được hưởng 100% có xu hướng tăng lên so với tốc độ tăng các khoản thu NSĐP hưởng theo tỷ lệ phần trăm. Vì vậy,  thu NS huyện có từ khoản thu hưởng 100% và số bổ sung từ tỉnh.

  • Phân cấp nhiệm vụ chi

Phân cấp nhiệm vụ chi giai đoạn 2010 – 2017, Theo Bảng  2.6, chi đầu tư phát triển của tỉnh năm 2010 là  25,121 tỷ kíp; năm 2017  là  40,62 kip (tăng  1,6 lần so với năm 2010). Như vậy, tỉnh Attapư rất chú trọng đầu tư công. Trong phân cấp chi cho địa phương, Trung ương đã đảm bảo cho địa phương chi đầu tư ngày càng lớn. Đây là nhân tố quan trọng thu hút thêm vốn FDI và vốn đầu tư tư nhân vào Tỉnh Attapư để phát triển KT-XH trên địa bàn. Chi thường xuyên chiếm khoảng  287,56 ty kíp trong tổng chi đầu tư và chi thường xuyên NSĐP. Chi thường xuyên tỉnh Attapư tăng qua các năm khá nhanh: Đến năm 2017 đã gấp  2,4  lần năm 20010.

Theo Bảng  2.11, năm 20010 chi NS cấp tỉnh là  126,689 kíp; chi NS huyện là  17, 047 kíp. Năm 2015, các con số này lần lượt tỉnh là  307,552 kíp và Huyện là  64,752  kíp. Điều này một lần nữa thể hiện vai trò chủ đạo của NS cấp tỉnh.

Phân cấp nhiệm vụ chi giai đoạn 2016 sau khi có luật mới, phân cấp phân cấp nhiệm vụ chi của các cấp NSĐP theo Luật NSNN 2015 số 71 và luật quốc hội số  64  đã quy định ra đời HĐND tỉnh đã thay đổi về phân cấp nhiệm vụ chi và xóa bỏ tỷ lệ phần trăm (%) khoản phân chia các khoản thu giữa NS  các cấp chính quyền địa phương chỉ còn khoản NS các cấp được hưởng mà thôi, đồng thời trong luật quy định rõ NS cấp trên không cho phép NS cấp rưới mất cân đối.

Như vậy, Tỉnh Attapư nhiệm vụ chi giữa tỉnh và huyện như sau:

– Chi NSNN của Tỉnh quản lý. Cụ thể như sau:

(1) Chi hành chính Nhà nước, mặt trận tổ quốc, tổ chức quần chúng cấp tỉnh;

(2) Chi giáo dục dưỡi Trường cao đẳng;

(3) quỹ dự trữ địa phương;

(4) Chi đầu tư Nhà nước của tỉnh quản lý;

(5) Chi viện trợ không hoàn lại;

(6) Chi khác theo pháp luật.

– Chi NSNN của Huyện quản lý. Cụ thể như sau:

(1) Chi hành chính Nhà nước, mặt trận tổ quốc, tổ chức quần chúng cấp Huyện;

(2) quỹ dự trữ địa phương được tỉnh giao cho quản lý;

(3) Chi đầu tư Nhà nước của Huyện quản lý;

(4) Chi khác theo pháp luật.

Tóm lại, NS cấp dưới phụ thuộc nhiều vào NS cấp trên.

* Nhiệm vụ chi 

+ Chi đầu tư phát triển, gồm: chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng KT-XH không có khả năng thu hồi vốn do cấp tỉnh quản lý; chi đầu tư và hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của Nhà nước theo quy định của pháp luật; các khoản chi đầu tư khác theo quy định của pháp luật;

+ Chi thường xuyên.

Chi thường xuyên là khoản chi quan trọng, tất yếu trong cơ cấu chi NSNN với khối lượng chi hằng năm rất lớn khiến cho vấn đề quản lý kiểm soát nó luôn được quan tâm đặc biệt, không chỉ với Lào mà còn là vấn đề chung của các quốc gia trên thế giới. Một chính sách, chế độ nhằm kiểm soát các khoản chi thường xuyên đúng mục đích, đối tượng, hiệu quả chống thất thoát, lãng phí sẽ đem lại một khoản tiết kiệm hằng năm rất lớn góp phần làm tăng chi đầu tư, phát triển kinh tế, xã hội.

Bên cạnh việc phối hợp với các cơ quan chức năng, nhằm khai thác các nguồn thu, thu đúng, thu đủ cho NSNN, KBNN tỉnh attapư còn có vai trò hết sức quan trọng trong việc thực hiện kiểm soát, giám sát chặt chẽ các khoản chi, nhất là chi thường xuyên, mang lại hiệu quả cao, góp phần cân đối thu chi trong địa bàn và cả nước.

KBNN tỉnh Attapư thực hiện kiểm soát chi thường xuyên theo luật NSNN trên địa bàn mình quản lý. Các khoản chi mang tính chất thường xuyên được thực hiện trên cơ sở dự toán đã được Quốc hội phê duyệt, Chỉ sau khi dự toán chi năm đã được duyệt bởi các cơ quan quyền lực từ thấp đến cao mới trở thành căn cứ chính thức để phân bổ chi thường xuyên cho mỗi ngành, mỗi cấp. Và các khoản chi thường xuyên chỉ được KBNN thanh toán khi có trong dự toán được duyệt và đầy đủ hóa đơn, chứng từ.

Các khoản chi thường xuyên mà KBNN tỉnh attapư kiểm soát có thể chia làm 4 nhóm chính là: chi thanh toán cá nhân; chi hàng hóa, dịch vụ các khoản chi hỗ trợ, bổ sung và chi khác. Tình hình thực tế về công tác kiểm soát, chi trả các khoản chi này được phân tích cụ thể trong các mục sau

– Chi thanh toán cá nhân

Khoản chi cho con người là khoản chi lớn nhất trong cơ cấu chi thường xuyên của NSNN. Trong những năm trở lại đây khoản chi này lại làm tăng nhanh do số lượng biên chế tăng lên và chính sách cải cách tiền lương của Nhà nước. Riêng trong địa bàn tỉnh attapư,

– Chi về hàng hóa, dịch vụ

Khoản chi về hàng hoá dịch vụ cũng là một khoản chi khá lớn  trong cơ cấu chi thường xuyên của NSNN. Trong những năm trở lại đây khoản chi này lại làm tăng nhanh do việc trang bị các thiết bị cho các cơ quan Nhà nước chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu sử dụng phục vụ cho hoạt động của các đơn vị . Riêng trong địa bàn tỉnh attapu,

 Các khoản chi hỗ trợ và bổ sung

Các khoản chi hỗ trợ và bổ sung chủ yếu nhằm thực hiện chính sách xã hội, nó chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng chi thường xuyên của NSNN

  • Các khoản chi thường xuyên khác

Ngoài những khoản chi trên thì trong chi thường xuyên còn có một vài khoản chi khác chiếm tỷ trọng không nhỏ, như: Chi tiếp khách, chi trả các khoản thu năm trước, chi kỷ niệm những ngày lễ

Việc chấp hành dự toán chi NSNN phải thực hiện theo nguyên tắc và quy trình quản lý chi như:

– Các khoản chi phải có trong dự toán ngân sách năm

– Các khoản chi phải được phê duyệt.

– Các khoản chi phải đúng mục tiêu đã đề ra.

– Phải được tính toán đúng với định mức chi;

– Phải được phép của người ra lệnh hoặc người được ủy quyền.

Trường hợp Quốc hội chưa phê chuẩn dự toán ngân sách năm; Chính phủ có quyền chi tạm ứng trước bằng 1/12 của tổng chi ngân sách được thực hiện năm trước để chi khoản tiền lương, trợ cấp, chi hành chính và chi trả nợ nước ngoài đã đến hạn.

Chi ngân sách phải chi đúng định mức chi đã quy định trong dự toán năm, ghi sổ sách đúng theo mục lục ngân sách và kế toán nhà nước.

Việc mua sắm, thuê, dịch vụ và xây dựng – sửa chữa bằng nguồn vốn của Nhà nước phải qua quy trình và hình thức đấu thầu, có hồ sơ đầy đủ theo quy định;

Chi ngân sách năm nào phải sử dụng nguồn thu ngân sách năm đó, nhưng thanh toán có thể được tiến hành thêm 03 tháng sau khi đã khóa sổ kế toán để kho bạc quốc gia có thể quyết toán tuyệt đối từng năm.

Sử dụng NSNN để thanh toán khoản chi phải thực hiện theo các hình thức như: chuyển khoản, thanh toán bằng tiền mặt, bằng séc và bằng hệ thống thư tín dụng.

Trong công tác tài chính và ngân sách người ra lệnh chính có trách nhiệm sau:

Chỉ đạo lập, thực hiện, quyết toán và đánh giá ngân sách nhà nước hàng năm;

Thông báo dự toán ngân sách nhà nước hàng năm cho các tổ chức công và các tổ chức có liên quan ở cấp trung ương và cấp địa phương;

Quyết định điều chỉnh chi ngân sách nhà nước từ khoản chi này sang khoản chi khác trong dự toán năm ngân sách nhà nước của đơn vị ngân sách nhà nước cấp một;

Giao cho các tổ chức nhà nước và các tổ chức khác ở trung ương và địa phương để xử lý, hủy bỏ khi kiểm phát hiện thấy việc tổ chức thu và thực hiện chi không đúng theo pháp luạt;

Cho phép mở tài khoản tiền gửi của đơn vị tổ ngân sách nhà nước;

Ra lệnh cho dừng hoặc hủy bỏ mua sắm bằng nguồn NSNN không đúng theo luật và các quy định;

Ra lệnh dừng hoặc hủy bỏ quyết định về ngân sách của các tổ chức chính quyền trung ương và địa phương trái với pháp luật và các quy định;

Ra lệnh dừng hoặc xóa bỏ các tài khoản tiền gửi của đơn vị ngân sách được mở không đúng theo luật và các quy định;

Ra lệnh nộp các khoản thu tập trung vào NSNN;

Ra lệnh chi ngân sách nhà nước hàng năm trong dự toán của Chính phủ giao;

Ra lệnh chuyển tiền trong hệ thống ngân sách nhà nước ở kho bạc quốc gia trong phạm vi toàn quốc;

Quyết định thành lập hoặc xóa bỏ đợn vị ngân sách nhà nước cấp hai thuộc cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương;

Ủy quyền cho người khác thực hiện nhiệm vụ thay thế minh trong trường hợp cần thiết.

Trong công tác tài chính và ngân sách người ra lệnh có trách nhiệm sau:

(1) Tổ chức thực hiện dự toán ngân sách năm;

(2) Tổ chức, quản lý thu đạt hoặc vượt kế hoạch;

(3) Thực hiện nhiệm vụ chi ngân sách năm do Chính phủ giao;

(4) Ra chỉ thị cho cơ quan nhà nước và các tổ chức khác có liên quan ở Trung ương và Huyện xử lý khi phát hiện thu không đúng quy định, thực hiện chi không tuân theo chế độ quản lý;

(5) Yêu cầu nộp khoản thu ngoài hệ thống tập trung vào NSNN và phân bổ nguồn thu nhằm đáp ứng nhu cầu chi trong năm ngân sách để bảo đảm cho người ra lệnh có thể rút tiền trong dự toán đầy đủ và kịp thời;

(6) Ra lệnh chi trong dự toán của ngân sách nằm trên phạm vi cả nước theo chỉ tiêu của Chính phủ giao.

Thực hiện quyền và nhiệm vụ của người ra lệnh chính dưới sự kiểm tra của Chính phủ, quốc hội, cơ quan có quyền kiểm tra và ban chuyên trách.

Trong công tác tài chính và ngân sách người ra lệnh có trách nhiệm sau:

(1) Tổ chức thực hiện dự toán ngân sách trong thẩm quyền;

(2) Thực hiện thu theo cơ chế, đầy đủ, kịp thời, công khai và minh bạch;

(3) quyết định điều chỉnh chi NSNN từ khoản này sang khoản khách trong

Cùng phần nằm trong năm dự toán NSNN;

(4) phấn đấu thu NSNN đạt hoặc vượt dự toán;

(5) Thực hiện nhiệm vụ chi ngân sách đúng mục đích, đúng mục lục ngân sách và làm thủ tục đầy đủ;

(6) Ghi sổ theo chế độ kế toán nhà nước, tính toán theo định mức chi;

Thực hiện quyền và nhiệm vụ của người ra lệnh dưới sự kiểm tra của Bộ Tài chính, cơ quan có quyền kiểm tra và ban chuyên trách.

Trong công tác tài chính và ngân sách Kho bạc quốc gia có trách nhiệm sau:

(1) Thực hiện dự toán ngân sách, quản lý, giám sát, ghi chép khoản thu – chi NSNN theo dự toán được Quốc hội phê chuẩn thông qua, đôn đốc thu đúng, đầy đủ và kịp thời vào Kho bạc quốc gia;

(2) Phân loại khoản thu ngân sách phần của Trung ương nộp vào tài khoản Trung ương, khoản thu của Huyện phải nộp vào tài khoản của Huyện và phân chia khoản thu giữa Trung ương và Huyện theo tỷ lệ phần trăm do Chính phủ quyết định phân chia trong từng thời kỳ.

(3) Kiểm soát các khoản chi ngân sách trước khi rút khỏi kho bạc, kiểm tra quyền của người ra lệnh, kiểm tra tính hợp lệ của thủ tục thanh toán tiền. Trường hợp phát hiện người ra lệnh, quyết định chi không đúng chế độ luật định có quyền giải thích để khắc phục kịp thời;

(4) Quản lý quỹ NSNN, các quỹ công của các đơn vị hành chính sự nghiệp, viện trợ không hoàn lại và vốn vay, tiền gửi của cơ quan nhà nước và các tổ chức khác liên quan kể cả tài khoản tiền gửi của doanh nghiệp nhà nước, cá nhân và pháp nhân;

(5) Mở tài khoản tiền gửi ở ngân hàng theo quy định của pháp luật và quyết định của Chính phủ.

Tất cả các khoản thu – chi NSNN phải ghi sổ theo chế độ kế toán nhà nước phù hợp với chuẩn mực kế toán, luật kế toán nhà nước và mục lục ngân sách được ban hành trong từng thời kỳ.