Phân cấp thẩm quyền ban hành chính sách chế độ

Trong lĩnh vực thu NSNN, dựa trên cơ sở quy định của Luật NSNN, nghị định của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn của các bộ, ngành, cơ quan Trung ương, HĐND tỉnh, UBND tỉnh ATTAPU đã ban hành một số các văn bản nhằm tăng cường quản lý các khoản thu, huy động kịp thời các nguồn lực vào NSNN. Hiện tại, địa phương đã ban hành một số văn bản về thu NSNN đang áp dụng thực hiện như: Thông báo Bộ Tài Chính số 566/BTC ngày 07/05/2010; Quy định của Bộ Tài Chính số 0371/BTC ngày 19/023/2012; Công lệnh Bộ Tài Chính 1765 ngày 04/07/2013; Thông báo sở tài chính 54/STC ngày 14/10/2015; Nghị quyết số 04 /NQ-HĐND ngày 30/01/2017 của HĐND tỉnh là đầu tiên của HĐND; Nghị quyết số 02 /NQ-HĐND ngày 30/01/2017 trong đó đã quy định về mức học phí, học phí nghề, học phí các môn tự chọn đối với giáo dục mầm non và các cấp giáo dục phổ thông, mức thu và quản lý, sử dụng các khoản phí và lệ phí trên địa bàn tỉnh, mức thu, tỷ lệ phần trăm (%) nộp NSNN và để lại đơn vị thu các khoản phí, lệ phí trên địa bàn tỉnh …

Trong lĩnh vực chi NSNN:

Thẩm quyền ban hành chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi chưa được quy định cụ thể trong Luật NSNN 2015 mà giao cho Bộ Tài chính  thay mặt chính phủ ban hanh qua các năm chi tiết có quy định như sau :

Quyết định định mức phân bổ NS  làm căn cứ xây dựng dự toán, phân bổ NS  cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan khác ở Trung ương, các địa phương; trước khi ban hành, Thủ tướng Chính phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến bằng văn bản.

Căn cứ vào định mức phân bổ NS Bộ Tài chính  ban hành, khả năng tài chính – NS  và đặc điểm tình hình ở địa phương, HĐND cấp tỉnh quyết định định mức phân bổ NS  làm căn cứ xây dựng dự toán và phân bổ NS  ở địa phương.

Căn cứ vào các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ quyết định những chế độ chi NS  quan trọng, phạm vi ảnh hưởng rộng, liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ KT-XH của cả nước như: chế độ tiền lương, trợ cấp xã hội, chế độ đối với người có công với cách mạng, tỷ trọng chi NS  thực hiện nhiệm vụ giáo dục đào tạo, y tế, khoa học công nghệ trong tổng chi NS  nhà nước; trước khi ban hành, Chính phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến bằng văn bản.

Bộ Tài chính ban hành quyết định các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu thực hiện thống nhất trong cả nước. Đối với một số chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu để phù hợp đặc điểm của địa phương, Thủ tướng Chính phủ quy định khung và giao HĐND cấp tỉnh quyết định cụ thể.

Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NS  đối với các ngành, lĩnh vực sau khi thống nhất với các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực; trường hợp không thống nhất, Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, cho ý kiến trước khi quyết định.

Ngoài các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu trên Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành, đối với một số nhiệm vụ chi có tính chất đặc thù ở địa phương để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, trên cơ sở nguồn NSĐP bảo đảm, HĐND cấp tỉnh được quyết định chế độ chi NS , phù hợp với đặc điểm thực tế ở địa phương. Riêng những chế độ chi có tính chất tiền lương, tiền công, phụ cấp, trước khi quyết định phải có ý kiến của các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Bộ Tài chính việc ban hành các chế độ chi NS  ở địa phương để tổng hợp và giám sát việc thực hiện;

Căn cứ vào yêu cầu, nội dung và hiệu quả công việc, trong phạm vi nguồn tài chính được sử dụng, Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp có thu được quyết định các mức chi quản lý, chi nghiệp vụ phù hợp với yêu cầu thực tế và khả năng tài chính của đơn vị theo quyết định của Bộ Tài chính. về chế độ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu sau khi có ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước cấp trên; các chế độ này phải gửi cơ quan tài chính cùng cấp và Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch để phối hợp và giám sát thực hiện. Trường hợp các mức chi đó không phù hợp với quy định của Chính phủ thì cơ quan Tài chính có ý kiến để điều chỉnh cho phù hợp”.

Căn cứ các tiêu chuẩn định mức và chính sách chế độ theo quy định của nhà nước hiện hành, các bộ, HĐND tỉnh, UBND tỉnh ATTAPƯ đã ban hành các văn bản trong lĩnh vực chi NS  hiện đang áp dụng như: Thông tư pháp dẫn về việc tính tiền lương và ủng hộ cho cán bộ nhà nước, cán bộ về hưu, thương binh số 2924/BTC ngày 19/10/2012, Thông tư hướng dẫn về việc thực hiện kế hoạch ngân sách nhà nước năm 2014-2015 số 3625/BTC ngày 24/10/2014, thông báo của Sở Tài chính số 546/STC ngày 14/10/2015 về việc thu ngân sách. Công lệnh của Chủ tịch tỉnh số 808/CTT ngày 15/7/2014 về quản lý thu ngân sách thuế. Quyết định của Bộ Tài chính số 2066/QĐ-BTC ngày 25/6/2015 về chi ngân sách hành chính của Nhà nước. Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính số 17/TT-BTC ngày 15/10/2015 về việc thực hiện NSNN.

Xuất phát từ thực tế hiện nay ở tỉnh ATTAPƯ là trình độ quản lý tài chính, ngân sách của các cấp chính quyền còn hạn chế, trình độ dân trí còn thấp, hoạt động tài chính, ngân sách nhìn chung còn đơn giản, chính vì vậy cho đến nay ở tỉnh ATTAPƯ chưa đặt vấn đề phân cấp thẩm quyền trong việc ban hành chính sách chế độ trong lĩnh vực tài chính, ngân sách. Hệ thống chính sách thuế, phí, lệ phí, các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu của NSNN đều do Trung ương ban hành. Các cấp chính quyền Huyện căn cứ vào; của Huyện có thể vận dụng một cách thích hợp song vẫn nằm trong phạm vi cho phép. Luật NSNN năm 2015.