Phân tích 3 tình huống trong thực tế để làm rõ tác động của quy luật giá trị trong nền kinh tế ở Việt Nam hiện nay

        1. Quy luật giá trị điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa

Ví dụ để minh chững rõ cho tác động điều tiết và lưu thông hàng hóa mà nhóm đã quyết định chọn là tình hình giá gà giảm liên tục trong thời gian qua.

Năm nay, người nuôi gà đang điêu đứng bởi giá gà tại các trại chăn nuôi đang giảm rất mạnh, trong khi giá thức ăn chăn nuôi tăng cao từ 5-10% so với đầu năm. Tính từ thời điểm tháng 10 cho đến tháng 11 này, chỉ trong vòng chưa đầy một tháng mà giá gà đã giảm hơn 10.000 đồng/kg. Giá gà trắng tại chuồng hiện chỉ còn 18.000-20.000 đồng/kg, gà tam hoàng cũng chỉ ở mức 30.000 – 32.000 đồng/kg. Gà thả vườn cũng giảm mạnh, chỉ còn 45.000-48.000 đồng/kg. Trong khi mới tháng 4-5 vừa qua, giá gà trắng ở mức 30.000-32.000 đồng/kg, gà tam hoàng 45.000-48.000 đồng/kg, gà thả vườn khoảng 70.000-78.000 đồng/kg. Không những giá gà thịt giảm mà giá trứng gà cũng rất ảm đạm, người nuôi gà đẻ lấy trứng cũng đang bị lỗ từ 200 – 300 đồng/trứng.

Về nguyên nhân của vấn đề trên, ta có thể thấy được hiện đang có rất nhiều yếu tố chi phối tác động làm cho giá gia cầm giảm mạnh. Thứ nhất là do giá bán lẻ gia cầm quá cao so với giá thực. Có một nghịch lý là dù giá gà ở các trang trại giảm nhưng người tiêu dùng vẫn phải mua gà ở mức giá khá cao. Hai là dịch cúm gia cầm đầu năm vẫn còn tác động đến tâm lý khách hàng. Ba là các chủ trại nuôi gà tiêu thụ sản phẩm qua thương lái thì còn phải qua nhiều nấc trung gian. Từ khâu thu mua, lò giết mổ, đầu mối bán sỉ, chợ lớn, chợ nhỏ rồi mới đến tay người tiêu dùng thì giá cả lên cao. Còn đối với những trang trại lớn theo quy trình khép kín không qua khâu trung gian nào mà đến tay người sử dụng ngay thì giá cũng đội lên rất cao (giá gà ta đóng gói mà các cơ sở chăn nuôi cung cấp cho các chợ và siêu thị trên địa bàn cũng chỉ khoảng 50 – 54 ngàn/kg, trong khi đó giá bán tại các chợ và siêu thị luôn dao động ở mức 90 – 100 ngàn đồng/kg) .Và đặc biệt là gà trong nước đang phải cạnh tranh với nguồn gà nhập khẩu từ Trung Quốc, Hàn quốc cũng như một số nước khác. Theo số liệu từ Cục Chăn nuôi, 9 tháng đầu năm, cả nước đã nhập khẩu 2.735 tấn thịt heo các loại và 52.586 tấn thịt gà (trong đó có 6.147 tấn gà thải nguyên con từ Hàn Quốc), chưa kể nguồn gà đẻ thải loại nhập lậu từ Trung Quốc mỗi năm ước tính từ 70.000 – 100.000 tấn. Nguyên nhân là do giá thành loại hàng này khá rẻ vì giá thịt gà nhập hiện chỉ có 0,85 USD/kg (khoảng 16.000 đồng/kg) trong khi giá thành chăn nuôi 1 kg gà hơi trong nước đã lên đến 30.000 đồng/kg, thu hút mạnh khách hàng ở các bếp ăn tập thể và các cửa hàng kinh doanh ăn uống.

        1.1. Về điều tiết sản xuất

Qua ví dụ trên, chúng ta có thể thấy rõ mặt thứ nhất của tác động đầu tiên trong quy luật giá trị: Tác động điều tiết sản xuất – Thông qua sự biến động của giá cả hàng hóa trên thị trường mà yếu tố sản xuất được phân bổ thích hợp. Ở đây, giá gà giảm sẽ làm người nông dân đang chăn nuôi gà với quy mô lớn phải chịu thiệt thòi khi bán gà với mức giá này, nhẹ nhất là họ lãi được ít còn nặng hơn đó là họ phải chịu lỗ vốn. Và để tránh gặp phải tình trạng lỗ vốn này thì ngoài việc thu hẹp quy mô chăn nuôi gà, người nông dân đương nhiên sẽ chuyển sang chăn nuôi con vật khác có giá trị cao hơn, chính điều này đã làm giảm sức chăn nuôi gà, đồng thời cũng tạo thêm nguồn cung cấp các loại vật nuôi khác để đáp ứng kịp thời nhu cầu của xã hội hiện nay. Một số chủ trại gà do thua lỗ nặng nên đã chuyển sang nuôi gia công cho các doanh nghiệp nước ngoài nhưng cũng đang gặp khó khăn do các công ty nước ngoài cũng đang thua lỗ nặng. Chẳng hạn, Công ty CP Việt Nam đang lỗ 72 tỉ đồng/tháng, Emivest lỗ 60 tỉ đồng/tháng, Japfa lỗ 48 tỉ đồng/tháng… Từ đây ta đã có thể nhìn ra rằng không những ngành chăn nuôi gà đã được điều tiết hợp lý mà các ngành chăn nuôi khác cũng được điều chỉnh lại phù hợp với thị trường hàng hóa, với nhu cầu của người tiêu dùng.

1.2. Về lưu thông hàng hóa

Sự biến động về giá gà trên thị trường làm cho nguồn hàng biến động từ những nơi có giá bán lẻ thấp (do người dân nuôi và trực tiếp bán) đến nơi có giá bán cao (do qua nhiều khâu trung gian dẫn đến giá cả bị đội lên) và ngược lại.

Việc giá gà có sự chênh lệch giữa các địa phương đã ảnh hưởng đến việc lưu thông mặt hàng này.  Ở những nơi mà giá gà thấp, bị giảm mạnh, lượng tiêu thụ bị giảm sút thì sẽ ít được tiếp tục cung cấp hơn. Và ngược lại ở những nơi mà giá gà cao, khá ổn định thậm chí là tăng lên, lượng tiêu thụ lớn thì sẽ thu hút nguồn cung cấp hơn. Việc lưu thông sẽ theo luồng từ nơi có giá gà thấp đến nơi có giá gà cao, ổn định. Khi ít được cung cấp thì ở những nơi giá gà thấp đó, cung sẽ nhỏ hơn cầu từ đó sẽ đẩy giá gà tăng lên, khi giá gà tăng thì sẽ lại thu hút lưu thông nguồn cung cấp gà đi đến những nơi này nhiều hơn. Từ đó làm cho lưu thông mặt hàng này được thông suốt.

Như vậy, biến động của giá cả trên thị trường không những chỉ rõ sự biến động về kinh tế mà còn tác động điều tiết nền kinh tế hàng hóa và lưu thông hàng hóa. Việc này giúp cho cung và cầu luôn hướng đến trạng thái cân bằng, ổn định, cân bằng thị trường, tạo ra sự luân chuyển hàng hóa, phát triển các ngành  nghề  một  cách đồng đều. Tuy nhiên ngược lại sự chạy theo giá cả và lợi nhuận cũng  sẽ dấn tới những ảnh hưởng tiêu cực, một số ngành nghề bị bỏ trống.

2. Quy luật giá trị kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lí hóa sản xuất, tăng năng suất lao động, thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển

Trong thực tế sản xuất ở Việt Nam, để tạo ra được sản phẩm có chất lương, thu được nhiều lợi nhuận là điều bất cứ ai cũng mong muốn. Chính vì vậy người sản xuất hàng hóa đều tìm mọi cách cải tiến kĩ thuật, hợp lý hóa sản xuất, ứng dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật mới vào sản xuất để giảm hao phí lao động cá biệt của mình. Một ví dụ cụ thể là vấn đề phát triển cây cao su ở nước ta.

Cây cao su được du nhập vào Việt Nam kể từ năm 1897, cho tới nay đã được hơn 100 năm. Trong thập niên 80 của thế kỉ XX, đặc biệt là từ khi bắt đầu công cuộc Đổi mới, chính sách cho tiểu nông thuê tiểu điền để khai thác đã đem lại luồng sinh khí mới cho cây cao su Việt Nam. Tuy nhiên từ đầu những năm 90, sự tan rã của Liên xô đã làm cho giá cao su xuất khẩu liên tục giảm. Diện tích cao su cả nước vào thời điểm này là 250.000 ha, sản lượng là 103.000 ha, chỉ bằng 15% so với Thái Lan, năng suất mủ chưa tới 0,5 tấn/ha. Để vực dậy sự phát triển của cây cao su Việt Nam, nước ta đã có những biện pháp cụ thể để nâng tầm giá trị của cây cao su.

Nắm vững đặc điểm sinh thái của cây cao su, ta đã tập trung đầu tư có trọng điểm vào 2 vùng chuyên canh là Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Các chủ nông trường cao su đã chủ động trong việc đầu tư phát triển loại cây này. Những đồn điền cao su già cỗi từ thời Pháp thuộc hoặc được trồng từ những năm 1984-1986, cho năng suất mủ rất thấp (chỉ đạt 1 tấn/ha) đã được thay thế bằng những gốc cao su hoàn toàn mới. Đất đai được tập trung một cách cao độ, hình thành các vùng chuyên canh cây cao su trên quy mô lớn (Đông Nam Bộ và Tây Nguyên) để tăng cường chuyên môn hóa sản xuất. Tiếp đó là tiến hành cải tiến kĩ thuật, cải tiến tổ chức quản lý, áp dụng các tiến bộ khoa hoc kĩ thuật vào sản xuất. Ta đã nhập ngoại các giống cao su Malaysia cho năng suất cao, có khả năng chống chịu cao với các loại sâu bệnh và gió lớn như PB235, PB260 (giống được trồng đại trà ở hầu hết các vùng trồng cao su gần đây), PB255 (trồng đại trà ở các công ty cao su Đông Nam Bộ), RRIM600 (giống rất triển vọng cho Tây Nguyên và Bắc Trung Bộ)…Cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ cho ngành được đầu tư khá đồng bộ như hệ thống cung cấp nước tưới (hồ Dầu Tiếng ở Tây Ninh), quy trình từ khâu lựa chọn cây giống, chăm sóc cây con cho tới khi thu hoạch diễn ra theo một trật tự chặt chẽ và đảm bảo yêu cầu. Việc xây dựng các cơ sở chế biến mủ ngay tại vùng nguyên liệu đã giảm bới chi phí vận chuyển và tăng hiệu quả sản xuất. Nắm rõ giá trị của cây cao su là mặt hàng xuất khẩu chủ lực, các nhà sản xuất đã chủ động mở rộng thị trường, chú trọng khâu chế biến để nâng cao sức cạnh tranh…

Nhờ đó trong những năm gần đây, cao su là cây công nghiệp chủ lực, một trong mười mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của nước ta . Sản phẩm cao su Việt Nam chủ yếu dùng để xuất khẩu (90%).  Nông dân ở các tỉnh trồng nhiều cao su như Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh, Quảng Trị, Đăk Lăk,…cũng giàu lên nhờ cây cao su. Sản lượng cao su thiên nhiên của Việt Nam trong mấy năm qua tăng khá mạnh, từ 220 ngàn tấn (1996) lên 550 ngàn tấn (2007). Vị thế của ngành cao su Việt Nam trên thế giới ngày càng được khẳng định. Diện tích cao su ở Việt Nam ngày càng tăng, từ 480.200 ha (2005) tăng lên 549.600 ha (2007), tăng bình quân khoảng 7%/năm. Các vùng trồng cao su chủ yếu là Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Duyên hải miền Trung và miền Bắc. Xuất khẩu cao su Việt Nam hiện đang đứng thứ tư thế giới, sau Thái Lan, Indonesia và Malaysia. Kim ngạch xuất khẩu cao su của Việt Nam trong giai đoạn 2003-2007 tăng trưởng rất cao, bình quân gần 50%/năm. Sản lượng cao su tự nhiên của Việt Nam cũng tăng tương ứng từ 468.600 tấn (2005) lên 601.700 tấn (2007), bình quân tăng 13,3%/năm.

Một ví dụ cụ thể là Cổ phần Cao su Đồng Phú được thành lập vào năm 1981, tiền thân là đồn điền cao su Phú Riềng của thực dân Pháp hồi đầu thế kỉ XX. Lúc mới thành lập, Công ty có khoảng hơn 2000 ha cao su già cỗi có từ thời Pháp, năng suất mủ rất thấp (dưới 1 tấn/ha). Sau hơn 30 năm hoạt động, diện tích cao su của Đồng Phú đã phát triển lên đến hơn 10.000 ha và cho năng suất bình quân 2,5 tấn/ha. Có được như vậy là nhờ công ty đã nhập khẩu các giống cao su mới cho năng suất cao, cải tiến kĩ thuật trồng và khai thác mủ cao su. Ngoài việc trồng và khai thác mủ cao su, Đồng Phú còn là đơn vị đi tiên phong và duy nhất trong Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam đầu tư công nghệ sản xuất sản phẩm tiêu dùng từ cao su, nhằm giảm việc xuất khẩu nguyên liệu thô, tạo thêm việc làm, tăng thêm chuỗi lợi nhuận và khẳng định thương hiệu cao su Việt Nam

trên thị trường quốc tế. Đặc biệt, năm 2011 vừa qua, Đồng Phú đã được tạp chí Forbes của Hoa Kỳ bình chọn vào top 200 công ty vừa và nhỏ tốt nhất châu Á.

Như vậy, với chiến lược cải tiến kĩ thuật, áp dụng giống mới, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động, ngành cao su nước ta đã có những bước tiến mới, có chỗ đứng trên thị trường thế giới. Sự tiến bộ này đã tạo ra thế cạnh tranh giữa các nước trong ngành sản xuất mặt hàng cao su buộc tất cả các nước đang sản xuất cao su phải tuân theo quy luật giá trị. Áp dụng tốt quy luật giá trị, sáng tạo, đổi mới công nghệ sản xuất, ngành cao su không những tạo ra uy tín của mình trên thị trường mà còn góp phần thúc đẩy nền kinh tế nước nhà phát triển.

3. Quy luật giá trị thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hóa người sản xuất hàng hóa thành người giàu, người nghèo

Sự tác động của quy luật giá trị, bên cạnh những mặt tích cực là điều tiết sản xuất, lưu thông hàng hóa và kích thích cải tiến kĩ thuật, hợp lí hóa sản xuất, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm thì còn có tác động khác, đó là sự phân hóa những người sản xuất hàng hóa thành người giàu, người nghèo. Để làm rõ mặt tác động này, chúng tôi xin đưa ra một ví dụ cụ thể về sự phân hóa trong thu nhập của các hộ gia đình nuôi trồng thủy sản ở Cà Mau.

Cùng là những người nông dân xuất thân từ vùng quê nghèo khó làm nghề nuôi trồng thủy sản ở tỉnh Cà Mau, nhưng trong vài năm gần đây, mức thu nhập của những người dân ở đây có sự phân hóa rõ rệt. Một số người nông dân đã biết áp dụng khoa học – kĩ thuật trong sản xuất, đem lại hiệu quả cao, đời sống kinh tế khá lên, cuộc sống trở nên sung túc, có điều kiện phát triển mở rộng kinh doanh sản xuất để làm giàu… Tuy nhiên, bên cạnh những hộ đạt kết quả cao trong nuôi trồng thủy sản, vẫn còn nhiều hộ đạt kết quả thấp, thua lỗ liên miên. Tại sao lại có sự phân hóa như vậy? Câu hỏi được đặt ra trong điều kiện nhiều người nông dân Cà Mau cùng được hướng dẫn cách áp dụng khoa học kĩ thuật mới vào sản xuất nhằm làm giảm hao phí lao động cá biệt và tăng năng suất.

Với kinh nghiệm, kiến thức sẵn có khi còn trồng lúa, nay chuyển sang nuôi tôm, một số nông dân Cà Mau tiếp thu rất nhanh, áp dụng khá tốt những tiến bộ khoa học kĩ thuật vào nghề nuôi tôm. Từ đó, nuôi trồng thủy sản phát triển theo hướng đa dạng hóa các loại hình nuôi, đối tượng nuôi gắn với chọn lựa con giống, xử lý nguồn nước, dịch bệnh, bảo vệ môi trường và đã khắc phục được yếu tố tự phát, độc canh, từng bước phát triển bền vững. Tiêu biểu là tấm gương Anh Ðoàn Văn Túc ở thị trấn sông Ông Ðốc, huyện Trần Văn Thời. Đến đầu năm 1995, anh mạnh dạn vay vốn Ngân hàng và quyết định đầu tư vào nuôi trồng thủy sản. Qua 2 năm (1995 – 1996), làm ăn thuận lợi, anh trả được nợ ngân hàng. Nhận thức được đây là vùng đất nhiều tiềm năng, phù hợp với nuôi trồng thủy hải sản và sản xuất con giống, anh trăn trở để tìm cách giải quyết vấn đè vốn và kĩ thuật. Để nắm được kĩ thuật anh đã đi tìm hiểu các mô hình lớn, nhỏ khác nhau từ miền Trung, miền Tây. Năm 1997, anh tự bỏ kinh phí ra Nha Trang (Khánh Hòa) học hỏi kinh nghiệm nuôi tôm, cua giống và tham gia khóa học về kỹ thuật nuôi trồng thủy sản với phương thức vừa học, vừa làm. Năm 2000, anh nhận thêm 17 ha đất của nông trường đầu tư xây dựng 4 trại sản xuất tôm, cua giống sạch bệnh đạt chất lượng cao. Nhận thấy việc nuôi tôm, cua có lãi, anh đã xin nhận thêm 4ha đất đầu tư vào nuôi tôm quảng canh cải tiến. Qua 7 năm vừa học, vừa làm, mô hình sản xuất của gia đình anh đã có 35 ha nuôi trồng thủy hải sản, hàng năm thu nhập trừ chi phí, còn có lãi hơn 500 triệu đồng. Được khích lệ bằng những thành công ban đầu, những năm tiếp theo, anh mạnh dạn đầu tư xây dựng thêm 14 trại sản xuất tôm, cua giống, nâng tổng số đến nay lên 18 trại, với 450 hồ nuôi 3.500 con tôm, cua bố mẹ. Giờ đây anh Túc đã trở thành tỷ phú ở tuổi 39 với gia sản 14 ha đất nuôi tôm, 15 trại sản xuất, ương giống và gần 20 cửa hàng, điểm giao dịch mua bán tôm giống trong, ngoài tỉnh với vốn đầu tư nhiều tỷ đồng. Trong hai năm vừa qua, gia đình anh Túc sản xuất gần 400 triệu con giống cung ứng cho thị trường, đạt doanh thu hơn 5 tỉ đồng.

Tuy nhiên, không phải người nông dân nào cũng thành công được như anh Túc bởi đa phần nông dân đều có trình độ học vấn thấp, tập quán canh tác manh mún, không có điều kiện để tập trung sản xuất trên quy mô lớn, lại mơ hồ trong việc cải tiến kĩ thuật nuôi trồng. Mặt khác hệ thống thủy lợi, phương tiện kiểm dịch con giống, kiểm soát môi trường, dịch bệnh còn nhiều hạn chế, trong khi đội ngũ cán bộ, kỹ sư có tay nghề làm công tác khuyến ngư – nông lại thiếu… Từ đó, gây khó khăn cho nuôi trồng thủy sản, môi trường sinh thái bị ô nhiễm, dịch bệnh diễn ra liên tục, một bộ phận nhân dân đời sống vẫn rất khó khăn. Trước tình hình ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, tôm chết diễn ra liên tiếp như hiện nay, thì công tác chuyển giao khoa học – kĩ thuật giúp người nuôi trồng tránh thiệt hại, rủi ro được xem là nhiệm vụ cấp bách đối với các ban, ngành hữu trách ở Cà Mau hiện nay. Tuy nhiên, so với nhu cầu thực tế thì việc chuyển giao khoa học – kĩ thuật ở đây vẫn còn chậm. Hiện toàn tỉnh còn một bộ phận khá đông người dân hiểu biết rất “mơ hồ” hoặc không có điều kiện tiếp cận, áp dụng khoa học – kĩ thuật vào ruộng tôm của mình và rất cần được hướng dẫn, trợ giúp. Chính điều này đã lý giải vì sao năng suất, sản lượng tôm nuôi của Cà Mau còn thấp dù diện tích nuôi rất lớn; chưa nâng cao được độ đồng đều trong thu hoạch mùa vụ giữa các nông hộ nuôi tôm.

Có thể thấy rằng, việc làm thế nào để giảm lao động cá biệt trong sản xuất, thu được lợi nhuận cao đã quan trọng, nhưng điều kiện thuận lợi cũng là thiết yếu không kém dẫn đến sự thành công. Những người nông dân ở Cà Mau như anh Túc có điều kiện sản xuất thuận lợi, có trình độ kiến thức cao, trang bị kĩ thuật tốt, đáp ứng được yêu cầu của quy luật giá trị nên có hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội cần thiết, nhờ đó phát tài, giàu lên nhanh chóng. Họ có cơ hội mua sắm thêm các trang thiết bị hiện đại, mở rộng quy mô sản xuất. Ngược lại, những người không có điều kiện thuận lợi, làm ăn kém cỏi, gặp rủi ro như thiên tai, dịch bệnh,… nên bị thua lỗ, dẫn đến phá sản, trở thành nghèo khó.

Như vậy, qua ví dụ điển hình về sự phân hóa mức độ thu nhập giữa những người nông dân nuôi trồng thủy sản ở Cà Mau, ta thấy được quy luật phân hóa giàu nghèo hết sức tự nhiên trong kinh doanh, dưới tác động của quy luật giá trị.