Phân tích các thành phần kinh tế tồn tại ở Việt Nam mà đại hội Đảng IX đã nêu


1. Thành phần kinh tế Nhà nước (TPKTNN)

a.Khái niệm:

TPKTNN lấy chủ sở hữu toàn dân làm cơ sở ( hay còn gọi là sở hữu nhà nước). Nó là những đơn vị, tổ chức trực tiếp sản xuất kinh doanh mà toàn bộ nguồn lực thuộc sở hữu Nhà nước hoặc phần của toàn nhà nước chiếm tỉ lệ khống chế.

b. Hình thức tồn tại:

TPKTNN bao gồm các doanh nghiệp nhà nước (kinh tế quốc doanh), các tài sản thuộc sở hữu nhà nước ( đất đai, tài nguyên, ngân hàng, tài chính, dự trữ quốc gia..)
– TPKTNN trước hết là các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp cổ phần được hình thành trên cơ sở :
+ Nhà nước đầu tư xây dựng
+ Quốc hữu hóa các doanh nghiệp tư bản tư nhân.
+ Góp cổ phần khống chế các doanh nghiệp tư nhân.
– Với bản chất nhà nước XHCN, nhà nước xác định đất đai, tài nguyên thiên nhiên, tài chính ngân hàng .. do nhà nước nắm giữ chi phối để điều tiết, định hướng sự phát triển kinh tế xã hội.

c. Thực trạng và xu thế phát triển:

Theo số liệu 1976-1990, đầu tư cho kinh tế quốc doanh mỗi năm chiếm tới 20% tổng chi ngân sách nhà nước nên kinh tế quốc doanh được tăng thêm năng lực mới : 1127 nghìn KW điện, 4,8 triệu tấn than, 1184 nghìn ha gieo trồng được tưới và 581,6 nghìn ha được tiêu, 831 nghìn ha được khai hoang. Các công trình quan trọng như thủy điện Hòa Bình, thủy điện Trị An, xi măng Hoàng Thạch, Bỉm Sơn, giấy Bãi Bằng, cầu Thăng long, cầu Chương Dương, Bến Thủy.. đã đưa vào hoạt động và phát huy tác dụng tích cực.

Do nhiều năm xây dựng nên nền kinh tế quốc doanh đã có năng lực đáng kể. Trong nông nghiệp, cả nước có 654 hồ, đập vừa và lớn, hơn 1000 cống tưới tiêu lớn với 10 nghìn máy bơm các loại, trên 2000 máy biến thế và gần 600 km đường dây điện cao thế với tổng công suất lắp đặt 20 vạn KW phục vụ tưới và 23 van KW phục vụ tiêu, 315 nông trường với trên 8000 máy kéo và 478 trại nhân giống. Trong công nghiệp, đã có 3020 XN quốc doanh, công suất điện 2700 MW, công suất dệt trên 400 triệu m, công suất giấy 16 vạn tấn, công suất xi măng 4,2 triệu tấn.. .Trong GTVT có 105500 km đường bộ, 10732 chiếc cầu và 177 bến phà. Đường thủy có 19500 km nội địa và 7 cảng chính. Hàng không có 2 sân bay quốc tế và một số sân bay trong nước. Thương nghiệp quốc doanh có 17757 điểm bán hàng. Ngoài ra, còn có 753 cơ sở thuộc các ngành tài chính, ngân hàng và các hoạt động dịch vụ khác.

Tính chung kinh tế quốc doanh cho tới cuối năm 1989 có trên 12 nghìn cơ sở với 27817 tỉ đồng giá trị tài sản cố định theo nguyên giá.
Do có tiềm lực như vậy nên hàng năm kinh tế quốc doanh đã tạo ra 30-40% tổng sản phẩm xã hội ( 1981: 35,2%, 1985: 35,7%, 1990: 38,8%) và 20-30% thu nhập quốc dân (1981: 22,9%, 1985: 24,4%, 1990: 30%)
Nếu năm 94 số doanh nghiệp nhà nước có vốn dưới 1 tỷ đồng chiếm tới 50% tổng số doanh nghiệp nhà nước thì đến năm 2000 số đó chỉ còn 25%. Số doanh nghiệp có vốn 1 tỷ đồng tăng từ 10% lên 20%. Phần đóng góp của doanh nghiệp nhà nước chiếm gần 40% tổng nộp ngân sách và trên 50% kim ngach xuất khẩu của cả nước. Tỉ lệ đóng góp của doanh nghiệp nhà nước trong GDP tăng tương ứng từ 36,5% lên 40,2%. Tỉ suất lợi nhuận trên vốn nhà nước tăng từ 6,8% (1993) lên 12% năm 2000.

d.Vai trò và tác dụng.

*TPKTNN đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, nó là chỗ dựa kinh tế cho nhà nước điều tiết vĩ mô, đảm bảo những cân đối chủ yếu cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Vai trò của nó trước hết thể hiện ở chỗ: Kinh tế quốc doanh nắm gần như toàn bộ ngành công nghiệp năng lượng (điện lực, khai thác than và dầu khí, khai khoáng, luyện kim, cơ khí chế tạo, sản xuất xi măng, phân bón thuốc trừ sâu và công nghiệp quốc phòng:
Trong sản xuất hàng tiêu dùng, công nghiệp quốc doanh giữ vai trò chính trong một số sản phẩm quan trọng: 70% vải mặc, 85% giấy, 70% xe đạp, 60% xà phòng, 100% thuốc tân dược.
Trong xây dựng cơ bản, kinh tế quốc doanh đảm nhận hầu hết các công trình trên hạn ngạch và các công trình quan trọng quyết định triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân.
Trong giao thông vận tải, kinh tế quốc dân đảm nhận từng cung độ dài như vận tải Bắc Nam, vận tải ngoài nước.
Trong nông nghiệp, kinh tế quốc doanh là nơi cung cấp chủ yếu kĩ thuật nuôi trồng và các giống cây con cho năng suất cao. Nó đảm nhận nhiệm vị tưới tiêu chính ở hệ thống kênh cấp I.
Trong lâm nghiệp khai thác được 25-30% sản lượng gỗ toàn ngành trong 1 năm.

Trong lưu thông phân phối, thương nghiệp quốc doanh có vai trò to lớn trong việc cung cấp và ổn định giá cả thị trường đối với những vật tư hàng hóa thiết yếu như xăng dầu, sắt thép, phân bón thuốc trừ sâu, xi măng, gạo và là lực lượng chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ xuất nhập khẩu.
Kinh tế quốc doanh nước ta cũng là lực lượng chủ yếu cung cấp tài chíng cho ngân sách nhà nước . Tỉ lệ thu từ kinh tế quốc doanh thường chiếm 60-80% tổng thu ngân sách. Thu nhập thuần túy từ thu nhập quốc doanh hàng năm gấp nhiều lần so với thu thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh.

Kinh tế quốc doanh thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước nghiêm chỉnh hơn các thành phần kinh tế khác.
Vai trò của kinh tế quốc doanh nếu chỉ đánh giá các mặt lượng trên thì chưa đủ vì nó còn có những mặt không thể lượng hóa được. Trong một số trường hợp kinh tế quốc doanh phải chịu thô lỗ để cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân phát triển, nhất là trong khi điều kiện phát triển kinh tế từ một cơ cấu lạc hậu nông nghiệp là phổ biến. Nhiều sản phẩm hoặc dịch vụ do kinh tế quốc doanh đảm nhận thường là đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế khác. Trách nhiệm xã hội của kinh tế quốc doanh còn thể hiện ở các mặt khác nữa như tạo việc làm, phân phối lại thu nhập quốc dân, đào tạo cán bộ quản lí và công nhân lành nghề, giảm bớt sự mất cân đối giữa các dân tộc, giữa các vung kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế.

Bên cạnh đó kinh tế quốc doanh của ta trong thời gian qua đã bộc lọ một số điểm yếu , cần khắc phục . Đó là :

Do chủ quan , duy ý chí và nóng vội đi lên CNXH nên chúng ta đã mở rộng kinh tế quốc doanh quá mức chịu đựng của nền vật tư , tài lực hiện có và quá khả năng quản lí ở các cấp các ngành .
Việc thành lậpcác cơ sở kinh tế quốc doanh lại không được chuẩn bị kĩ về cơ cấu ngành , điều kiện kinh tế kĩ thuật , thiếu các căn cứ càn thiết .
Những cơ sỡ kinh tế quốc doanh nhỏ là bộ phận chịu thua lỗ lớn nhất .

2.Thành phần kinh tế tập thể (TPKTTT).

a.Khái niệm :

TPKTTT dựa trên sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất , do những người lao động tự nguyện góp vốn vào để làm ăn tập thể dưới nhiều hình thức mà điển hình là các hợp tác xã .

b. Hình thức tồn tại :

Hình thức quan trọng của kinh tế hợp tác là hợp tcs xã . Kinh tế hợp tác xã là những hình thức liên kết kinh tế có pháp nhan , tuân thủ những nguyên tắc , có tổ chức chặt chẽ và điều lệ hoịat động rõ ràng Kinh tế HTX được phát triển dưới nhiều hình thức đa dạng từ thấp đến cao , từ nhóm tổ đến HTX theo nguyen tắc tự nguyện , bình đẳng cùng có lợi.
Trong những năm đổi mới kinh tễHT có những biến đổi căn bản:
Hộ nông dân được coi là đơn vị kinh tế tự chủ , ruộng đất được giao sử dụng lâu dài. Thực tế xuất hiện những hình thức hợp tác xã giản đơn, từng khâu như hợp tác xã cổ phần, hợp tác xã dịch vụ đầu vào, đầu ra phục vụ cho kinh tế hộ và kinh tế trang trại phát triển.

c. Thực trạng và xu thế phát triển.

Các hợp tác xã kiểu cũ bước sang cơ chế mới đã ngày càng bộc lộ tính không phù hợp. Trong thời gian từ năm 1986 đến 1996 đã giải thể 3623 HTX và 37787 tập đoàn sản xuất nông nghiệp, trên 42 nghìn HTX tín dụng. Số hợp tác xã còn lại tuy không giải thể nhưng phần lớn tồn tại trên danh nghĩa. Năm 1996 là thời điểm kết thúc mô hình HTX kiểu cũ chuyển sang thời kì xây dựng và phát triển HTX theo mô hình mới, đánh dấu bằng việc ban hành luật HTX tháng 3 năm1996.

d. Vai trò và tác dụng:

*TPKTTT là trợ thủ đắc lực cho thành phần kinh tế nhà nước ở nông nghiệp và nông thôn. Kinh tế tập thể đã có vai trò không nhỏ trong nền kinh tế quốc dân. Các HTX và tập đoánản xuất trong trong nông nghiệp đóng vai trò chủ yếu trong sản xuất lương thực , thực phẩm nguyên liệu nông nghiệp và cho công nghiệp chế biến và nông sản xuất khẩu. Kinh tế tập thể trong công nghiệp có những năm đã tạo ra trên 40% giá trị tổng sản lượng của toàn ngành công nghiệp. Khối lượng hàng hóa và hành khách do kinh tế tập thể thực hiện hàng năm thường bằng trên dưới 30% khối lượng vận chuyển của vận tải quốc doanh. Thương nghiệp tập thể trong nhiều năm trước đây đảm nhận khoảng 15% tổng mức bản lẻ trên thị trường ( số liệu từ năm 90 trở về trước)

*Hạn chế:

Kinh tế tập thể cũng có những bước phát triển do cải tạo nóng vội, gượng ép và vi phạm nguyên tắc cơ bản của hợp tác hóa là tự nguyện.
Khi đổi mới cơ chế quản lí , bao cấp bị cắt giảm , kinh tế quốc doanh trì trệ thì kinh tế tập thể lâm vào tình trạng sa sút là không thể tránh khỏi.
Quá trình hình thành chưa được chuẩn bị kĩ , khi hoạt động lại dựa vào kinh tế quốc doanh , trang bị đơn giản , trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh yếu kém. Sản xuất chất lượng kém , dịch vụ đơn giản và chất lượng phục vụ thấp .
Tuy vậy do xây dựng mô hình HTX kiểu mới nên kinh tế tập thể cùng với kinh tế nhà nước ngày càng trở thành nền tảng cho kinh tế quốc dân của nước ta.

3. Thành phần kinh tế cá thể và tiểu chủ (TPKTCT & TC)

a. Khái niệm.

TPKTCT & TC dựa trên tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và lao động của chính người chủ sở hữu nó.

b. Hình thức tồn tại.

Kinh tế hộ gia đình trong nông nghiệp thủ công nghiệp, buôn bán và dịch vụ nhỏ.

c. Thực trạng và xu thế phát triển.

Từ khi bước vào thời kì đổi mới thành phần kinh tế này đã không ngưng phát triển cả về mặt số lượng cũng như quy mô hoạt động. Theo luật hợp tác xã việc thực hiện từ tháng 1/1987 các hộ nông dân không tham gia HTX nông nghiệp thì tồn tại dưới hình thức kinh tế cá thể tiểu chủ.
Số hộ kinh doanh cá thể hoạt động từ 1.498.611 hộ năm 1992 lên 2.026.259 hộ năm 1996, tốc độ tăng bình qụân 7,68% /năm, mỗi năm tăng 129.412 hộ. Từ năm 1996-2000 số lượng hộ kinh doanh cá thể hoạt động tăng từ 2.016.259 hộ lên 2.137.731 hộ, tăng bình quân 1,47 % năm, mỗi năm tăng 30.364 hộ.

Trong cơ cấu ngành nghề, thời điểm 31/2/2000, các hộ kinh doanh thương mại dịch vụ chiếm tỉ trọng 51,9% tiếp đếnlà các hộ sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiếm tỉ trọng 30,2%.

Vốn đầu tư phát triển của hộ kinh doanh cá thể năm 2000 là 29.267 tỉ đồng tăng 12,93% so với năm 1999. Năm 2000, vốn đầu tư của hộ kinh doanh cá thể chiếm 19,83% trong vốn đầu tư toàn xã hội. Nói chung các hộ kinh doanh cá thể có nhiều khó khăn về vốn hoạt động, phải vay ở thị trường không chính thức với lãi xuất cao và thời hạn ngắn, rất khó tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại, nhất là nguồn vốn tín dụng ưu đãi của nhà nước.
Về số lượng lao động từ năm 1996 –2000 tốc độ tăng bình quân là 2,01%/năm.

d. Vai trò và tác dụng.

Đóng góp quan trọng vào GDP năm 2000, đóng góp vào GDP là 154.561 tỉ đồng.
Giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân.
Đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước.
Lưu thông hàng hóa, vật tư thông thoáng, việc đi lại mua sắm của dân cư thuận tiện dễ dàng hơn, không còn cảnh người và hàng chờ phương tiện như trước đây, chất lượng phục vụ cũng được tăng lên do có sự cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế
*Tuy nhiên trong quá trình phát triển của thành phần kinh tế này đã bộc lộ nhiều hạn chế như buôn lậu, làm hàng giả, đầu cơ, trốn tránh đăng kí, kinh doanh và trốn lậu thuế.

4. Thành phần kinh tế tư bản tư nhân(TPKTTBTN)

a. Khái niệm:

TPKTTBTN dựa trên sở hữu tư nhân tư bản về tư liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê, đầu tư vào những ngành vốn ít, lãi cao. Nó là những đơn vị kinh tế mà vốn do một hoặc một số nhà tư bản trong và ngoài nước đầu tư để sản xuất kinh doanh và dịch vụ.

b. Hình thức tồn tại.

Tổ chức dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn , công ty cổ phần.. .

c. Thực trạng và xu thế phát triển:

Năm 1991, ở Việt Nam có 122 doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập theo luật doanh nghiệp tư nhân 1990, luật công ty 1990. Năm 1993 , sau khi ban hành nghị định 66HĐBT đã có khoảng 900.000cá nhân , nhóm kinh doanh được cấp đăng kí theo loại hình đơn vị có vốn dưới mức pháp định . Đến cuối năm 2001 , đã có trên 30.000 doanh nghiệp tư nhân được thành lập theo luật doanh nghiệp .
Tổng vốn đăng kí của các loại hình doanh nghiệp của tư nhan từ năm 1991 đến hết tháng 9/2001 đạt 50.795,142 tỉ đồng . Trong đó doanh nghiệp tư nhân 11.470,173 công ty cổ phàn 10.260,770 tỉ chiếm 20,20%.
Năm 2000 , tổng vốn thực té sử dụng của doanh nghiệp là 110.071,8 tỉ , tăng 38,4% so với năm 1999 , trong đó của công ty trách nhiệm hữu hạn tăng 40,07% , doanh nghiệp tư nhân tăng 37,64% , công ty cổ phần tăng 36,79%.
Về số lượng lao động từ năm 1996 – 2000 : tốc độ tăng lao động ở doanh nghiệp bình quân 24,15% 1 năm . Số lao động làm viẹc trong doanh nghiệp tăng thêm được 487.459 người ( tăng 137,57%)

d. Vai trò và tác dụng :

Đóng góp quan trọng vào GDP : Năm 2000, sđóng góp vào GDP là 33.154 tỉ đồng
Đóng góp và huy dộng ngày càng nhiều các nguồn vốn trong xã hội cho đàu tư sản xuất , kinh doanh : vốn đầu tư phát triẻn , vốn sử dụng và vốn đăng kí kinh doanh đều tăng nhanh , chiếm tỉ trọng đáng kể trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội
Đóng góp tích cực cho tạo việc làm , xóa đói giảm nghèo , nâng cao đời sống người lao động .
Đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước .
Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế , tăng kim ngạch xuất khẩu, thúc đẩy cạnh tranh.
* Hạn chế :
Nhiều doanh nghiệp tư nhân chưa đảm bảo tính công khai , minh bạch trong kinh doanh , chưa thực hiện đúng các qui định của pháp luật về lao động , hợp đồng lao động, chế độ bảo hiểm, tiền lương, tiền công, chế độ bảo hộ lao động đối với người lao động.
Còn tồn tại nhiều doanh nghiệp với trình độ công nghệ thấp, năng lực quản lý của người lao động và tay nghề của người lao động còn yếu, hiệu quả kinh doanh thấp và kém bền vững, sức cạnh tranh yếu.

5. Thành phần kinh tế tư bản nhà nước (TPKTTBNN)

a.Khỏi niệm

Là sản phẩm của sự can thiệp của nhà nước và hoạt động của các TPKTTBNN
Tổ chức, đơn vị kinh tế tư bản trong và ngoài nước ,.

b.Hình thức tồn tại:

Bao gồm tất cả cỏc hỡnh thức hợp tỏc ,liờn doanh sản xuất giữa kinh tế nhà nước và kinh tế TB trong và ngoài nước nhằm sử dụng , khai thác , phát huy thế mạnh của mỗI bên tham gia , đặt dướI sự kiểm soát của nhà nước .

c.Thực trạng và xu thế phát triển :

Năm 1988,sau khi nhà nước ban hành luật đầu tư nước ngoài , Việt Nam đó có 37 dự án đầu tư dược cấp phép dướI hỡnh thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài , doanh nghiệp liên doanh giữa VN vớI nước ngoài vớI tổng số vốn đăng kí 360 triệu USD.Chỉ riêng năm 1995 đó cú 404 dụ ỏn vốI 6,6 tỉ USD vốn đăng kí , và đến tháng 12 năm 2000 số dự án được cấp giấy phép lên tớI 3112 dự án vớI vốn đăng kí 43,16 tỉ USD . Trong đó có 27 dự án (156 triệu USD) đó kết thỳc đúng thờI hạn hoạt động , 452 dự án (3,24 tỉ USD) đó bị giảI thể trước thờI hạn , 668 dự án xin tăng vốn (4,25 tỉ USD) .
Hiện nay ở nước ta , sử dụng kinh tế TB nhà nước phảI đặt trong bốI cảnh đặc thù của thờI đạI và dân tộc: sự tác động cửa xu hướng toàn cầu hoá , thương mạI hoá các mặt đờI sống kinh tế-chính trị-XH làm cho cạnh tranh quốc tế ngày càng quyết liệt giữa các quốc gia trong giả quyết các vấn đề về: vốn , công nghệ , nguyên liệu , lao động … mốI quan hệ kinh tế giữa các nước ,TB dân tộc ngày càng quan hệ mật thiết vớI TB quốc tế . Điều đó cho ta thấy , việc thực hiện kinh tế TBNN ở nước ta hiện nay vừa có thuận lợI , vừa có nhiều thách thức , khó khăn.

d.Vai trò và tác dụng:

KTTBNN kết hơp tối ưu sức mạnh của nhà TB với vai trũ sức mạnh của nhà nước trong việc huy động ,sử dụng vốn , kĩ thuật , công nghệ , kinh nghiệm tổ chức quản lí , để giành lợI thế cạnh tranh trên thương trường.
KTTBNN không chỉ là “chiếc cầu nốI” giữa nhà nước vớI TB tư nhân trong nước mà cũn mở rộng “bàn tay nhà nước” với TB nước ngoài hướng chúng vào thực hiện mục tiêu xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của CNXH đồng thờI chuyển dần nền sản xuất tiểu nụng lờn sản xuất lớn XHCN.
Thông qua KTTBNN để cảI tạo tư sản dân tộc , củng cố địa vị thống trị của giai cấp công nhân.

6.Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài:

a.Khỏi niệm:

Nó bao gồm phần vốn của nước ngoài vào các cơ sở sản xuất kinh doanh của nước ta.

b.Hinh thức tồn tại :

Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài , doanh nghiệp liên doanh giữa VN vớI nước ngoài.

c.Thực trạng và xu thế phát triển;

Trong 10 năm (1991_2000) các DN có vốn đầu tư nước ngoài có giá trị sản xuất bỡnh quõn tăng 22% 1 năm. Trong 5 năm (1996_2000) tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đó thực hiện khoảng 10 tỉ ÚD , chiếm 24% tổng vốn đầu tư toàn XH , các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tạo ra 34% giá trị XK toàn ngành công nghiệp , khoảng 23%kim nghạch xuất khẩu và đóng góp trên 10% GDP chung của cả nước , thu hút trên35 vạn lao đọng trực tiếp làm việc trong ngành xây dựng , thương mạI , dịch vụ liên quan.

d.Vai trò và tác dụng:

TPKT có vốn đầu tư nước ngoài đó khai thỏc những tiềm năng , lợI thế so sánh và các nguồn ngoạI lực từ phía cácđốI tác bên ngoài. Do đó nó đó bổ su ng nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển , tạo thế và lực mớI cho nền kinh tế nước ta , góp phần quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế , nâng cao trỡnh độ công nghệ , trỡnh độ quản lí nền kinh tế nước ta , góp phần mở rộng quan hệ dốI ngoạI , chủ động hộI nhập kinh tế vớI các nước trong khu vực và quốc tế , nâng cao năng lực XK của VN , đồng thờI mở rộng thị trường hàng hoá , dịch vụ và lao động.

Tuy nhiên kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không đồng nhất vớI các TPKT trong nước cả về mục tiêu và cơ chế vận hành , vừa cầncó chính sách thu hút mạnh hơn , vừa phảI quan tâm , theo dừi , phõn tớch điều chỉnh để đảm bảo mốI quan tâm , theo dừi , phõn tớch điều chỉnh để đảm bảo mốI tương quan hợp lí vớI các TPKT trong nước và lợI ích đất nước.