Phát triển đồng bộ các loại thị trường ở Việt Nam là một tất yếu khách quan

Thực tiễn việc chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường ở nước ta trong thời gian qua cho thấy dù muốn hay không ,một khi đã chấp nhận nền kinh tế thị trường, hay nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường , hay nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì điều cốt lõi nhất vẫn là phải có thị trường. Một khi đã chấp nhận sự hiện hữu của thị trường thì cần phải có đầy đủ các loại thị trường. Cuộc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường của các nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô trước đây, dù là áp dụng liệu pháp sốc như Balan, Nga hay tiệm tiến như Hungari, Bungari thì cũng vẫn là việc xây dựng một nền kinh tế thị trường có đầy đủ các loại thị trường với đầy đủ các bộ phận cấu thành của nó. Công cuộc chuyển sang kinh tế thị trường của Trung Quốc là tiệm tiến hơn, đò đá qua sông, nhưng không né tránh việc xây dựng các loại thị trường. Ở nước ta cũng vậy, chúng ta cần xây dựng đầy đủ các loại thị trường để nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam vận hành có hiệu quả.

Năm 1986, Đại hội Đảng VI đã đánh dấu mốc lịch sử khởi xướng công cuộc đổi mới ở nước ta. Từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước là một bước ngoặt quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Với cơ chế cũ, nền kinh tế nước ta thiếu động lực và khi nguồn viện trợ từ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa không còn, nền kinh tế nước ta rơi vào khủng hoảng.

Từ đổi mới tư duy đến đổi mới cơ chế và xây dựng hàng loạt chính sách, luật pháp theo thị trường, nước ta đã trải qua một thời kỳ tự tìm kiếm đầu ra cho các sản phẩm. Từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường là một chặng đường lịch sử mà nhiều nước trên thế giới trong hệ thống xã hội chủ nghĩa đã trải qua, trả giá và phải chuyển đổi.

Trước đổi mới kinh tế, nước ta gặp nhiều khó khăn , sản xuất đình trệ, tăng trưởng thấp, lương thực thiếu, hàng tiêu dùng khan hiếm nghiêm trọng, giá cả tăng nhanh, đời sống dân cư khó khăn thiếu thốn. Nhiều công trình xây dựng bị đình lại vì không có vốn. Ngân sách thiếu hụt, cán cân thương mại mất cân đối nghiêm trọng, nhập khẩu gấp 4-5 lần xuất khẩu. Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1976-1980) cũng là kế hoạch 5 năm lần đầu khi đất nước được giải phóng, chúng ta không đạt được các mục tiêu cơ bản. Mô hình kế hoạch hóa tập trung xâm nhập vào miền Nam yếu ớt. Việc cải tạo tư bản và hợp tác hoá ở miền Nam không mang lại kết quả. Nhiều mô hình, chính sách được đưa ra để tháo gỡ nhưng chưa có biện pháp hữu hiệu. Tiếp đến là kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1981-1985) nền kinh tế đứng trước bờ vực thẳm của một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng.

– Sản xuất đình trệ trong tất cả các ngành : công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ … Nhiều công trình đang xây dựng bị đình lại vì không có vốn.
– Mất cân đối nghiêm trọng trong cán cân thương mại, nhập khẩu nhiều (cả hàng tiêu dùng) trong khi xuất khẩu không đáng kể.
– Thất nghiệp lớn, bộ máy hành chính phình to, thừa biên chế 30%
– Lạm phát tăng nhanh, đầu năm 1990 tăng khoảng 30-50% hàng năm, cuối năm 1985 tăng lên 587,2%
– Kỷ cương xã hội bị xói mòn

Khó khăn chồng chất, đời sống nhân dân đặc biệt là ở nông thôn túng thiếu. Giữa thập kỷ XX nước ta đứng trước cuộc khủng hoảng kinh tế kéo dài và gay gắt chưa từng có.

Do cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp thiếu động lực và bị xơ cứng kéo dài, ở một số địa phương đã có sự tìm tòi, thí điểm, phá rào, làm chui để tìm lối ra. Tư duy đổi mới của Đảng đã bắt gặp đổi mới hành động của nhân dân. Bắt đầu là tự phát, dần dần trở thành quan điểm và chính sách đổi mới.

Thí điểm khoán hộ ở Vĩnh Phúc – cơ sở thực tiễn của chỉ thị 100 của Ban bí thư vào tháng 10-1981 và trở thành một hình thức tổ chức sản xuất mới trong nông nghiệp nông thôn, được nông dân đồng tình, hưởng ứng. Kinh tế hộ phát huy tác dụng, giải phóng sức sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm. Cùng với sự thay đổi cơ chế kinh tế, trong nông nghiệp một khối lượng sản phẩm hàng hóa, lương thực lớn sản xuất ra, ngoài việc được tiêu dùng trong nước, còn xuất khẩu. Trước đó, lương thực là sự thiếu hụt trầm trọng, hàng năm phải kêu gọi viện trợ từ bên ngoài. Kinh tế hộ phát triển và hiện nay kinh tế trang trại ra đời, sức sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn đang được giải phóng góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa nông thôn.

Quá trình đổi mới nước ta từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một tất yếu khách quan- đó là sự đòi hỏi thúc bách của cuộc sống : đời sống nhân dân khó khăn, sản xuất đình trệ, lạm phát, thiếu việc làm, thâm hụt cán cân thanh toán, thâm hụt ngân sách Nhà nước kéo theo các chỉ tiêu kinh tế cơ bản quốc gia đều thấp dưới chỉ số an toàn về quản lý kinh tế vĩ mô- sự đổi mới ở nước ta cũng phù hợp với diễn biến của tình hình thế giới. Trong khi Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, bên cạnh sự tăng trưởng của các nước công nghiệp mới, đặc biệt là các nước và các vùng lãnh thổ Đông Á có nền kinh tế thị trường đã đặt ra cho nước ta phải tự tìm kiếm một mô hình kinh tế mới. Mô hình kinh tế thị trường gắn với sự quản lý của Nhà nước phù hợp với đặc điểm Việt Nam.

Theo thời gian và diễn biến thực tế quá trình đổi mới, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn ngày càng sáng rõ. Việc chuyển đổi nền kinh tế thị trường ở nước ta là sự phù hợp giữa yêu cầu chủ quan và khách quan, quy luật vận động của sản xuất và cuộc sống, phù hợp với diễn biến của tình hình trong và ngoài nước.