Phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

Khái niệm phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

Phát triển là sự vận động tiến lên từ thấp tới cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật. Nghiên cứu của Phạm Hoài Chung (2016) có đề cập đến phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ đô thị. Một số nghiên cứu khác như đã đưa ra quan điểm về phát triển bền vững cơ sở hạ tầng giao thông.

Có thể hiểu, phát triển KCHTGTĐB là sự biến đổi tích cực về quy mô, số lượng, cơ cấu, chất lượng của hệ thống KCHTGTĐB thông qua hoạt động đầu tư nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu vận tải đường bộ, tạo động lực phát triển kinh tế- xã hội.

Để phát triển kinh tế- xã hội, KCHTGTĐB luôn được đầu tư phát triển đi trước một bước. Hiện nay, các quốc gia đều hướng tới phát triển bền vững KCHTGTĐB, tức là sự phát triển của hạ tầng giao thông đường bộ phải đáp ứng được nhu cầu vận tải hiện tại mà không làm tổn hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu vận tải trong tương lai [66]. Nguyên tắc phát triển bền vững KCHTGTĐB là dựa trên nền tảng bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường. Về kinh tế, phải đảm bảo sự phát triển ổn định, hài hòa giữa các ngành kinh tế, các chủ thể kinh tế; giảm chi phí đầu tư xây dựng, khai thác công trình; tối ưu hóa, hợp lý hóa quá trình vận tải. Về mặt xã hội, bảo đảm thuận lợi, an toàn cho việc đi lại của người dân, góp phần nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần cho nhân dân, góp phần bảo đảm đời sống xã hội hài hòa. Về môi trường, giảm thiểu ảnh hưởng xấu tới hệ sinh thái, hạn chế phát thải và tiếng ồn của phương tiện giao thông, bảo đảm chất lượng môi trường sống của con người.

Phát triển KCHTGTĐB chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, cơ chế chính sách liên quan đến phát triển hạ tầng giao thông đường bộ. Các dự án về hạ tầng giao thông đường bộ chỉ được quy hoạch và triển khai khi xuất phát từ nhu cầu thực tế của người sử dụng, hoặc phục vụ cho chiến lược, kế hoạch về kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng.

Tiêu chí cơ bản đánh giá sự phát triển KCHTGTĐB của một quốc gia là: (1) Quy mô, cơ cấu, số lượng về cầu, đường, bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ và các công trình phụ trợ khác trên đường bộ. (2) Chất lượng của hệ thống KCHTGTĐB đáp ứng nhu cầu vận tải đường bộ, tạo động lực phát triển kinh tế- xã hội. Ngoài ra, còn có thêm tiêu chí khác như tính liên hoàn, đồng bộ với các lĩnh vực khác trong hệ thống giao thông; đảm bảo môi trường, đặc biệt ở những khu vực đông dân cư.

Nội dung phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

Để có được KCHTGTĐB phải tiến hành hoạt động xây dựng, gọi chung là xây dựng giao thông chuyên ngành đường bộ. Hoạt động xây dựng bao gồm các công việc

Lập quy hoạch xây dựng; (2) Lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế, quản lý dự án, lựa chọn nhà thầu, thi công, nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng; (3) Bảo trì, bảo hành và hoạt động khác liên quan đến xây dựng công trình [59]. Nghiên cứu về nội dung quản lý phát triển hạ tầng giao thông đường bộ theo hướng bền vững, Hoàng Thanh Tú (2016) [71] cho rằng bao gồm quản lý công tác dự báo, quản lý quy hoạch, quản lý thực hiện đầu tư xây dựng và quản lý vận hành khai thác. Việc phát triển KCHTGTĐB phải tuân theo quy hoạch và đảm bảo yêu cầu kỹ thuật và an toàn giao thông. Đường bộ đưa vào khai thác phải được quản lý, bảo trì theo quy định.

Phát triển KCHTGTĐB của một quốc gia bao gồm những nội dung sau:

* Nội dung thứ nhất là dự báo phát triển KCHTGTĐB. Đây là quá trình khảo sát nghiên cứu mối tác động qua lại giữa phát triển KCHTGTĐB với kinh tế – xã hội – môi trường – an ninh quốc phòng để đưa ra dự báo về tương lai đối với phát triển KCHTGTĐB. Thực hiện nội dung này, đòi hỏi phải có công tác khảo sát thống kê số liệu, phân tích số liệu, phân tích đánh giá số liệu dự báo và các chính sách có liên quan về phát triển kinh tế, xã hội, môi trường, an ninh quốc phòng. Nội dung này thường do Nhà nước thực hiện.

*Nội dung thứ hai là xây dựng chiến lược, quy hoạch hạ tầng giao thông đường bộ. Quy hoạch hạ tầng giao thông đường bộ là quá trình hoạch định cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ, các hình thức dịch vụ và hệ thống quản lý nhằm thỏa mãn nhu cầu vận tải, làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch phát triển của ngành, đưa ra giải pháp tổng thể phát triển ngành trong khoảng thời gian dài, từ đó xây dựng kế hoạch hành động dài hạn, trung hạn và ngắn hạn. Quy hoạch hạ tầng giao thông đường bộ các tuyến đường cao tốc, các tuyến quốc lộ gắn với các quy hoạch khác và công tác dự báo. Thông thường nội dung này do Nhà nước thực hiện, tư nhân không tham gia.

*Nội dung thứ ba là xây dựng KCHTGTĐB. Xây dựng KCHTGTĐB là nội dung cốt yếu, đóng vai trò quyết định trong phát triển KCHTGTĐB. Xây dựng KCHTGTĐB gồm hai nội dung là (i) xây dựng mới; (ii) xây dựng lại, mở rộng, khôi phục và sửa chữa các công trình giao thông đường bộ nhằm đáp ứng nhu cầu vận tải. Tư nhân có thể tham gia vào nội dung này.

Muốn xây dựng KCHTGTĐB phải có các nguồn lực để thực hiện. Đó là các nguồn lực tài chính, nhân lực, khoa học công nghệ….Nội dung xây dựng này được thực hiện thông qua hoạt động đầu tư phát triển KCHTGTĐB. Sản phẩm xây dựng giao thông đường bộ có đặc điểm là sản phẩm có tính đơn chiếc, chỉ được tiến hành sản xuất khi có đơn đặt hàng của người mua sản phẩm, được sản xuất ra ở những địa điểm, điều kiện khác nhau, chi phí cũng thường khác nhau. Đây là loại sản phẩm được sản xuất ra tại một địa điểm mà nơi đó đồng thời gắn liền với việc tiêu thụ và thực hiện giá trị sử dụng của sản phẩm, địa điểm tiêu thụ sản phẩm do người chủ sở hữu quyết định. Vì thế, các công việc của quá trình sản xuất xây dựng giao thông như khảo sát, thiết kế, lựa chọn phương án thi công, kết cấu công trình,… chịu chi phối bởi nhiều yếu tố về điều kiện tự nhiên, phong tục tập quán địa phương, đất xây dựng công trình và quy hoạch địa phương. Bởi vậy, với cùng một loại sản phẩm nhưng chi phí thường khác nhau. Giá trị của sản phẩm xây dựng giao thông thường rất lớn, chi phí đầu tư cho công trình thường trải suốt thời gian dài, nhà thầu nhiều khi phải có một lượng vốn đủ lớn đưa ra hoạt động trong khi đợi vốn của chủ đầu tư. Do thời gian xây dựng công trình kéo dài, dễ dẫn tới tình trạng đọng vốn sản xuất trong các khối lượng thi công dở dang của các doanh nghiệp xây dựng.

*Nội dung thứ tư là quản lý, khai thác, bảo trì đường bộ. Sau khi hoàn tất việc xây dựng, công trình được nghiệm thu và đưa vào sử dụng, khai thác. Việc quản lý, khai thác công trình sao cho đạt hiệu quả cao nhất, đem lại lợi ích cho người sử dụng, cho nhà đầu tư và cho đất nước. Nhà nước thực hiện quản lý, khai thác đối với đường được đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước, hoặc có nguồn gốc từ ngân sách. Đối với đường được đầu tư bằng vốn tư nhân, việc khai thác hạ tầng do nhà đầu tư tư nhân thực hiện trong thời hạn hợp đồng để hoàn vốn.

Trong quá trình sử dụng, nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng giao thông đường bộ, làm tăng tuổi thọ và năng lực phục vụ của các tuyến đường, giữ gìn tài sản đường bộ nhất thiết phải thực hiện bảo trì. Bảo trì công trình đường bộ là tập hợp các hoạt động nhằm duy trì hoạt động bình thường của công trình đường bộ và đảm bảo an toàn cho các đối tượng sử dụng đường bộ. Hoạt động này cũng là sự đảm bảo bắt buộc theo pháp luật về chất lượng nhằm duy trì khả năng chịu lực, mĩ quan, duy trì sự sử dụng hoặc vận hành của bộ phận, hạng mục, công trình đã hoạt động theo một chu kỳ thời gian do đơn vị thiết kế và Nhà chế tạo quy định cần phải sửa chữa, thay thế, phục hồi, đảm bảo tuổi thọ và an toàn vận hành. Trách nhiệm bảo trì thuộc về chủ sở hữu hoặc người quản lý, sử dụng công trình. Bảo trì cho các tuyến đường giao thông có vai trò hết sức quan trọng, tránh cho đường không bị hư hỏng nhanh và do đó khoản đầu tư không bị mất đi trước thời hạn dưới tác động của khí hậu và lưu lượng xe. Khu vực tư nhân thường tham gia vào nội dung khai thác công trình hạ tầng.

Ở Việt Nam hiện nay, việc bảo trì hệ thống đường bộ được phân công như sau: (1) Đối với các tuyến đường được đầu tư bằng vốn có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, việc bảo trì do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chủ trì thực hiện. Thời gian gần đây, các công ty Nhà nước về duy tu bảo dưỡng đường đã cổ phần hóa, các doanh nghiệp tư nhân có thể tham gia vào nội dung công việc này thông qua đấu thầu. (2) Đối với đường bộ BOT, chủ đầu tư có trách nhiệm thực hiện bảo trì trong thời hạn hợp đồng. Vì vậy khi nói đến nội dung xây dựng KCHTGTĐB theo hình thức BOT sẽ bao hàm cả nội dung xây dựng; quản lý, khai thác, bảo trì.

Trong phạm vi nghiên cứu về phát triển KCHTGTĐB, luận án tập trung chủ yếu ở nội dung xây dựng KCHTGTĐB. Riêng đối với nội dung xây dựng KCHTGTĐB theo hình thức BOT, phạm vi nghiên cứu bao hàm cả xây dựng; quản lý, khai thác công trình. Việc xây dựng KCHTGĐB được thực hiện thông qua hoạt động đầu tư.