Phát triển ngành thủ công mỹ nghệ mây tre lá với vấn đề cải thiện đời sống của người lao động và góp phần xóa đói giảm nghèo

Ở nước ta, ngành mây tre là nguồn thu chính và đã mang lại những hiệu quả KT rõ rệt cho đồng bào dân tộc thiểu số, nhiều vùng nông thôn. Qua khảo sát, có hơn 1,4 triệu người sinh sống dựa vào rừng, họ dễ dàng tìm kiếm thu nhập từ việc trồng, khai thác, chế biến tre nứa, song mây nên đời sống được cải thiện đáng kể. Tại tỉnh Thanh Hóa có trên 30% số gia đình với thu nhập mỗi ngày trên 250 nghìn đồng từ việc trồng luồng hay ở tỉnh Thái Bình, sau 5 năm trồng thâm canh mây nếp mỗi hộ có thể thu lãi ổn định từ 70 đến    100 triệu đồng/ha/năm…

Về tổng thể, thu nhập của các hộ gia đình nuôi trồng và khai thác mây tre lá có xu hướng tăng. Theo đó, tỷ lệ lao động có thu nhập trung bình >5 triệu đồng/tháng của hai    chủ thể trên tương đương nhau, nhưng tỷ lệ lao động có thu nhập trung bình ở các mức >2

  • 3 triệu đồng/tháng, >3 – 4 triệu đồng/tháng và >4 – 5 triệu đồng/tháng của hộ gia đình khai thác cao hơn so với các tỷ lệ tương ứng của hộ gia đình nuôi trồng. Trong đó, tỷ lệ hộ gia đình khai thác NVL có thu nhập 2 triệu đồng/tháng chiếm 24%, trong khi tỷ lệ này ở hộ nuôi trồng chỉ chiếm 49%. Qua đó cho thấy sự bất hợp lý về chuyển dịch cơ cấu lao động   từ lĩnh vực nuôi trồng (thu nhập cao hơn) sang lĩnh vực khai thác (thu nhập thấp hơn).

Đối với các hộ gia đình nuôi trồng và khai thác nguồn NVL mây tre lá, các vật dụng bảo hộ lao động được trang bị phổ biến nhất là găng tay, khẩu trang và mũ; ủng và quần áo bảo hộ ít được trang bị ít hơn. So với điều kiện KT hiện tại của các hộ gia đình nuôi trồng, trang bị được một số phương tiện bảo hộ lao động như trên là tương đối phù hợp.

Vấn đề tiếp cận kiến thức liên quan đến hoạt động khai thác và nuôi trồng bao gồm kiến thức về bảo hộ lao động chưa được các chủ thể hoạt động trong lĩnh vực này quan tâm. Qua khảo sát, có 89% hộ gia đình  khai  thác  mây tre lá  gần  như  không được tập huấn hàng năm, do nhận thức về lợi ích của công tác này còn hạn chế nên các hộ chỉ tham gia tập huấn khi có điều kiện thuận lợi về thời gian.

Hiện nay ở TP.HCM nếu thu nhập 60.000-70.000 đồng/ngày mới có thể tuyển, còn   ở tỉnh cũng phải 50.000 đồng/ngày. Qua khảo sát thực tế tại các DN về mức thu nhập hiện tại cũng cho kết quả phù hợp bình quân khoảng 3,2 triệu đồng/người/tháng. Mặc dù tiền lương danh nghĩa có tăng, nhưng giá cả hàng hóa và dịch vụ thiết yếu cũng tăng, thậm chí tăng cao hơn mức tăng lương và có khoảng 80% công nhân sống chủ yếu từ tiền lương  hàng tháng, nên đa số  công nhân chỉ đảm bảo đủ chi trả các khoản chi phí thiết yếu phục  vụ cuộc sống hàng ngày, không có khả năng tích luỹ. Tuy nhiên, DN khó giữ lao động vì gần đây đơn hàng không đều đặn. Để khắc phục tình trạng thiếu lao động khi cần, một số DN đã phải liên kết lại, bổ sung lao động cho nhau hoặc gia công lẫn nhau để đạt yêu cầu đơn hàng, đồng thời nghiên cứu những máy móc thiết bị có thể thay lao động chân tay.   Như vậy, người lao động làm việc tại các hộ gia đình rất bấp bênh, thu nhập thấp và thiếu  ổn định, phát triển manh mún, khả năng hợp tác bền vững giữa người thuê và người lao động còn thấp.

Phần lớn các cơ sở SX, hộ gia đình chế biến hàng TCMN mây tre lá có quy mô SX nhỏ, thu nhập thấp và chủ yếu thuê lao động thời vụ nên chưa quan tâm đến vấn đề kiểm   tra sức khỏe, cũng như thực hiện chế độ bảo hiểm XH, bảo hiểm y tế cho người lao động. Kết quả khảo sát cho thấy có 100% hộ được khảo sát không có lịch kiểm tra sức khỏe định kỳ cho thành viên trong gia đình và người lao động. Vấn đề đáng lo ngại là khi người lao động bị bệnh như có vết thương bị nhiễm trùng, bị bệnh ngoài da… nhưng đủ sức làm    việc, vẫn tham gia chế biến SP. Từ đó, ảnh hưởng rất lớn đến đảm bảo chất lượng và vệ  sinh an toàn.

Ngoài các bệnh thông thường, người lao động trong các DN, cơ sở chế biến, hộ gia đình có biểu hiện của một số bệnh nghề nghiệp như ung thư, mờ mắt, viêm xoang, thấp khớp,… Trong 100 lao động được khảo sát tại 10 cơ sở chế biến hàng TCMN mây tre lá, có hơn 40 lao động có các triệu chứng của bệnh nghề nghiệp. Trong đó, các triệu chứng của bệnh thấp khớp như đau lưng, nhức mỏi chân tay, viêm xoang như thường xuyên hắt xì hơi, đau đầu, chảy nước mũi,… là phổ biến nhất; có 10 lao động có triệu chứng bệnh về mắt và 02 người có triệu chứng về bệnh da liễu. Khi có các triệu chứng bệnh nghề nghiệp, tuỳ theo mức độ biểu hiện bệnh, người lao động có thể nhận được hỗ trợ thuốc từ DN hoặc đến khám tại Trung tâm y tế theo chế độ bảo hiểm y tế.

Tại các hộ gia đình, các triệu chứng bệnh nghề nghiệp ở người lao động biểu hiện  nghiêm trọng hơn. Trong số 100 hộ gia đình được khảo sát, có đến 53 hộ gia đình có người lao động mắc các triệu chứng của bệnh thấp khớp như đau lưng, nhức mỏi chân tay, 29 hộ gia đình có người lao động chỉ mắc các triệu chứng như mắt bị mờ và 09 hộ có người lao động mắc các triệu chứng về bệnh da liễu. Khi có các triệu chứng bệnh nghề nghiệp, phần lớn người lao động đến các Trung tâm y tế gần nhất để được khám và điều trị.