Phát triển ngành thủ công mỹ nghệ mây tre lá với vấn đề việc làm và trình độ lao động

Hiện nay cả nước có 735/2.017 làng nghề và hơn một nghìn DN quan tâm đến chế biến mây tre đan và XK hàng TCMN, trong đó thu hút 342 nghìn lao động tham gia lĩnh  vực này. Trong đó, tỷ lệ lao động khai thác có xu hướng tăng và tỷ lệ tương ứng trong lĩnh vực nuôi trồng ngày càng giảm. Năm 2006, số lượng lao động nuôi trồng và khai thác    NVL mây tre lá chiếm đến trên 80% tổng số  lao động trong toàn ngành TCMN. Tuy   nhiên, đến năm 2017 số lượng lao động nuôi trồng và khai thác NVL mây tre lá chỉ chiếm 66% số lượng lao động của ngành TCMN. Nguyên nhân chủ yếu là do trong những năm  gần đây Nhà nước không có chiến lược, chính sách tái đầu tư trồng mới và khai thác có kế hoạch đồng bộ nguồn tài nguyên dẫn đến hậu quả nguồn tài nguyên bị  cạn kiệt làm cho khan hiếm NVL sản xuất. Tình hình này ngành TCMN đã có sự chuyển dịch cơ cấu lao động từ lĩnh vực nuôi trồng, khai thác sang các hoạt động KD hay dịch vụ khác.

Trong giai đoạn 2009-2013, tổng số người lao động trong lĩnh SX-chế biến hàng TCMN mây tre lá của cả nước tăng lên khoảng 1,35 triệu (62% nữ giới, 38% nam giới) người góp phần tạo thêm việc làm. Trong đó, tỷ lệ lao động tại các cơ sở SX mây tre thu  hút số lượng lao động cao nhất 342.000 người, tiếp theo là SX cói 233.000 người, được đánh giá là phù hợp cho việc xúc tiến tạo việc làm do công nghệ SX đơn giản và nguồn nguyên liệu thô có thể kiếm tại địa phương. Xét về độ tuổi các chủ DN mây tre lá trong    các làng nghề phần lớn đã ở mức trên 45 tuổi chiếm tới 53,25%, thậm chí còn tới hơn 5%  đã ở tuổi nghỉ hưu. Đây cũng là đặc điểm của ngành hàng này yêu cầu cao về kinh nghiệm và kỹ năng, nhất là những nghệ nhân trong làng nghề. Số lượng lao động của mỗi hộ gia đình phổ biến ở mức dưới 10 người, trong đó sử  dụng lao động từ gia đình và thuê lao  động thời vụ là chủ yếu, chiếm 89% tổng số hộ được khảo sát. Số lao động làm thuê theo thời vụ cũng phân bố tập trung từ 01-05 người, với tỷ tệ 74% số hộ được khảo sát. Lao  động theo thời vụ chủ yếu được thuê theo hai phương thức, gồm: khoán SP và công nhật. Ngoài ra, trong tổng số 716 lao động của 100 hộ gia đình được khảo sát thì lao động nữ chiếm đến 82,4%; lao động dưới 15 tuổi  chiếm khoảng 7%. Đây là cơ cấu lao động đặc  thù, vì nghề chế biến yêu cầu sự khéo léo, không yêu cầu cao về thể lực đồng thời phần   nào hạn chế tính năng động và sáng tạo trong SX kinh doanh.

Trong những năm gần đây từ 2013-2017 có sự suy giảm về số lượng lao động tại   các làng nghề, dao động từ 10%-35%. Các làng nghề đã tạo việc làm cho khoảng 24% lao động nông thôn trong đó có 28,19% số làng nghề có công việc liên tục trong 12 tháng, 9,04% số làng nghề có công việc 11 tháng và 27,66% số làng nghề có công việc 10 tháng mỗi năm. Kết quả điều tra lao động tại các làng nghề giai đoạn 2010-2015 cho thấy có 79,62% làng nghề có số lao động gia tăng, 13,86% làng nghề có số lao động ổn định và 35,48% làng nghề có số lao động suy giảm. Tuy nhiên đến nay, ảnh hưởng khủng hoảng  KT toàn cầu tác động mạnh làm số lượng lao động đã suy giảm hàng loạt ở 100% các làng nghề được khảo sát, trong đó có nhiều làng nghề có sự suy giảm lớn như làng nghề đan lát Ngọc Động (Hà Nam) có số lao động từ bỏ việc SX hàng thủ công để đi làm ở các khu  công nghiệp hoặc chuyển ra Hà Nội lên tới gần 40%. Làng nghề đan lát Phú  Vinh  cũng  suy giảm trên 25%. Làng nghề Vạn Phúc trong giai đoạn thịnh vượng thường xuyên có

1.500 đến 1.600 lao động, gồm cả lao động gia đình và thuê mướn, nhưng năm 2016 chỉ  còn chưa đến 1.000 người… Lao động SX tại các làng nghề hiện tại đang trong giai đoạn được gọi là “khủng hoảng chưa từng thấy” trong lịch sử phát triển của các làng nghề.

Việc giảm lao động tại các làng nghề có nguyên nhân từ sự biến động của TT, đa phần các làng nghề TCMN mây tre lá thường SX các mặt hàng đại trà với lãi suất thấp nên rất dễ thua lỗ trong trường hợp biến động bất lợi của yếu tố đầu vào hoặc sự suy giảm sức mua của TT đầu ra nên phải trả lương/công lao động ở mức thấp. Sự non kém trong quản  lý, cũng như sự thiếu đoàn kết của nhiều DN tạo nên một sự không ổn định về mặt TT   cũng là một nguyên nhân gây nên sự suy giảm lao động. Qua đó cho thấy, khả năng giải quyết việc làm của các DN còn nhiều hạn chế, quy mô SX không được mở rộng và tốc độ tăng trưởng âm trong 2013 đến nay đã ảnh hưởng lớn đến khả năng sử dụng lao động, tạo việc làm cho người lao động trên địa bàn. Điều này cho thấy sự thiếu bền vững trong tạo việc làm của DN ngành hàng TCMN mây tre lá.

Nhìn chung, số lao động tham gia vào lĩnh vực SX-chế biến (không kể khâu nuôi trồng) không có hợp đồng lao động dài hạn chiếm khoảng 80% tổng số lao động đang làm việc tại các làng nghề. Trong đó, các cơ sở SX có tỷ lệ lao động không có hợp đồng dài hạn dao động từ 65-75%, trong khi lao động thời vụ tại các cơ sở SX này chiếm khoảng 75%. Điều này chứng tỏ mức độ chuyên môn hóa, trình độ công nghệ của các cơ sở SX chưa cao. Do thiếu cơ sở pháp lý trong duy trì quan hệ làm việc giữa DN và người lao động, dẫn đến thiếu ổn định trong lực lượng lao động. Mặt khác, kinh nghiệm và kỹ năng làm việc của lao động mới thường thấp, cần qua thời gian đào tạo, vì vậy sẽ ảnh hưởng đến chi phí và hiệu quả SX của DN. Lao động thời vụ chiếm đa số tại các cơ sở SX, là do các DN này chỉ SX một số mặt hàng trong khi nguồn cung nguyên liệu không ổn định và một số loại nguyên vật liệu khai thác, thu hoạch theo mùa.

Trình độ chuyên môn của số lao động làng nghề bình quân đã qua đào tạo tại các  làng nghề là 12,3%. Qua khảo sát, mức độ chuyên nghiệp của người lao động chưa đồng đều, các DN chưa quan tâm đúng mức đến công tác đào tạo công nhân khi  mới  tuyển  dụng. Thời gian đào tạo trung bình cho mỗi công nhân khoảng 02-03 tháng, có DN chỉ đào tạo công nhân trong 01 tháng đã đưa vào SX, nên tình trạng thiếu công nhân có tay nghề  cao khá phổ biến. Đối với hộ SX chế biến hàng TCMN mây tre lá, phần lớn người lao    động có trình độ khá thấp (kể cả các chủ hộ). Kết quả khảo sát 716 lao động/100 hộ gia đình, có 699 người có trình độ trung học cơ sở, chiếm 97,6%, còn lại là trình độ tiểu học. Người lao động cũng không được đào tạo kỹ năng, chủ yếu dựa trên kinh nghiệm và người đã thạo việc hướng dẫn người mới đi làm.