Phát triển về giá trị sản xuất ngành công nghiệp hỗ trợ

Ngành CNHT được xem là nền tảng cho sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp khác. Trong những năm qua, Việt Nam đón nhận những bước nhảy vọt về hội nhập khi hàng loạt hiệp định thương mại tự do song phương, đa phương lớn được ký kết. Đứng trước cơ hội ấy, song các doanh nghiệp  CNHT của Việt Nam mặc dù được sự trợ giúp từ các cơ chế, chính sách nhưng vẫn vướng nhiều khó khăn. Làm sao để chen chân được vào thị trường CNHT của các tập đoàn lớn, ở vị trí có giá trị gia tăng cao hơn đang là thách thức không hề nhỏ với các DN CNHT Việt Nam. Giá trị sản xuất của các ngành CNHT của Hà Nội đã không ngừng tăng qua từng năm. Giá trị sản xuất của toàn ngành CNHT Hà Nội đã tăng từ gần 29 nghìn tỷ đồng năm 2011 lên nghìn 46 nghìn tỷ đồng năm 2016 (Bảng 3.16).

Tuy giá trị sản xuất của ngành CNHT Hà Nội trong giai đoạn 2011 – 2016 đạt được khá nhiều kết quả khả quan nhưng giá trị sản xuất của ngành CNHT Hà Nội vẫn chiếm tỷ lệ rất thấp trong tổng giá trị sản xuất của ngành công nghiệp Hà Nội (chiếm khoảng 10%). Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất của các DN CNHT của Hà Nội giai đoạn 2011 – 2016 đạt hơn 9%/năm, cao hơn so với tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất của ngành công nghiệp (hơn 7%/năm).

Ngành sản xuất linh kiện phụ tùng là lĩnh vực phát triển nhất trong các lĩnh vực CNHT tại Hà Nội. Năm 2016, ước tính lĩnh vực này có giá trị sản xuất đạt khoảng 42,9 nghìn tỷ đồng theo giá so sánh năm 2010, chiếm khoảng 12% tổng giá trị sản xuất công nghiệp lĩnh vực sản xuất linh kiện, phụ tùng của cả nước. Trong lĩnh vực linh kiện, phụ tùng, sản xuất linh kiện phụ tùng cơ khí là lĩnh vực phát triển nhất với giá trị sản xuất đạt khoảng 19,5 nghìn tỷ đồng. Lĩnh vực sản xuất linh kiện điện – điện tử cũng khá phát triển với giá trị sản xuất đạt trên 18,5 nghìn tỷ đồng. Trong giai đoạn gần đây, việc các tập đoàn công nghiệp điện tử Hàn Quốc như Samsung, LG đầu tư sản xuất tại các tỉnh lân cận Hà Nội cũng mở ra cơ hội phát triển cho lĩnh vực này tại Hà Nội, với lợi thế về nhân lực chất lượng cao, tập trung các viện, trường đại học, giao thông thuận tiện, các loại hình dịch vụ hỗ trợ khá phong phú. Lĩnh vực linh kiện nhựa – cao su chiếm tỷ trọng thấp trong tổng thể CNHT Hà Nội với tổng giá trị sản xuất đạt trên 4,9 nghìn tỷ đồng; tuy nhiên ngành này đã đáp ứng khá tốt nhu cầu của các nhà lắp ráp.

Nhìn chung lĩnh vực CNHT dệt may – da – giày Hà Nội kém phát triển so với các ngành khác. Năm 2016, giá trị sản xuất ngành này ước đạt hơn 7 nghìn tỷ đồng (chiếm khoảng hơn 3% tổng giá trị sản xuất công nghiệp lĩnh vực CNHT cả nước). Ngành da – giày tại Hà Nội nhìn chung ít phát triển với giá trị sản xuất chỉ đạt khoảng 60 tỷ đồng (giá so sánh năm 2010). Nguyên nhân chủ yếu là CNHT cho ngành dệt may – da – giày còn kém cả về chất lượng và chủng loại sản phẩm. Công nghệ, máy móc lĩnh vực dệt – nhuộm – hoàn tất thiếu đồng bộ, lạc hậu nên năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm chưa đáp ứng được nhu cầu cho sản phẩm may xuất khẩu.

Qua khảo sát, giá trị sản xuất bình quân 1 lao động làm việc trong ngành công nghiệp hỗ trợ đã tăng từ hơn 800 triệu đồng năm 2011 lên gần 1 tỷ đồng năm 2016. Với đà tăng trưởng trên, ngành công nghiệp hỗ trợ của thành phố góp phần giải quyết việc làm cho số lượng lớn lao động của thành phố và từ các địa phương khác, cùng với đó là tăng thu nhập và sự gia tăng mạnh mẽ hơn nữa về giá trị sản xuất, góp phần lớn vào sự tăng trưởng nền kinh tế chung của thành phố.