Phát triển về số lượng doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ

Ngành CNHT Việt Nam và Hà Nội có tiềm năng rất lớn. Tuy nhiên, các DN Hà Nội cần phải hiểu rõ hơn sản xuất của các DN từ nước ngoài đặc biệt đối với Nhật Bản có nhiều hỗ trợ trong phát triển CNHT ở Hà Nội.

Như vậy, các DN Việt Nam sẽ có thể sánh vai cùng với các DN thế giới trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Theo ước tính năm 2017 Hà Nội có khoảng 729 DN tham gia vào CNHT, trong đó có 568 DN CNHT chế tạo với 3 nhóm khu vực cung ứng, 161 DN CNHT ngày dệt may và 04 DN CNHT ngành da – giày. Các DN CNHT mới bắt đầu tham gia vào sản xuất để cung ứng các sản phẩm cho ngành công nghiệp công nghệ cao. Tuy nhiên, thời gian qua ngành CNHT Hà Nội vẫn chưa thực sự phát triển so với tiềm năng, ngành CNHT mới dừng lại ở chế tạo, gia công các sản phẩm đơn giản, giá trị gia tăng nhỏ, năng lực cạnh tranh của DN còn yếu, tỷ lệ nội địa hóa, năng suất, chất lượng thấp so với nhiều nước trong khu vực.

Tốc độ phát triển bình quân số lượng các DN CNHT của Hà Nội trong giai đoạn 2010 – 2017 là hơn 9%/năm, trong đó tốc độ tăng nhanh nhất là các DN CNHT ngành hoàn thiện sản phẩm dệt (gần 15%/năm); tiếp đến là ngành sản xuất vải dệt kim, vải đan móc và vải không dệt; sản xuất sợi (hơn 13%/năm); số lượng các DN trong lĩnh vực sản xuất linh kiện phụ tùng tăng chậm hơn với mức tăng từ hơn 7% – hơn 9%/năm. Ngành da – giày cũng có số lượng DN tăng hơn 10%/năm, tuy nhiên số lượng các DN CNHT ngành da dày còn rất thấp (chỉ 4 DN tham gia vào ngành CNHT da – giày). Số DN CNHT tham gia vào lĩnh vực sản xuất linh kiện phụ tùng chiếm tỷ lệ rất lớn trong tổng số các DN CNHT (chiếm khoảng 78%); các DN CNHT ngành dệt may và da – giày chỉ chiếm khoảng 22% tổng số DN CNHT của Hà Nội.

Số DN tham gia và lĩnh vực sản xuất linh kiện phụ tùng khá lớn nên lĩnh vực này đóng vai trò chính trong phát triển CNHT của Hà Nội. Các sản phẩm linh kiện, phụ tùng cơ khí, điện – điện tử, nhựa – cao su đã cung ứng được rộng rãi cho các lĩnh vực công nghiệp ô tô, xe máy, điện tử, công nghiệp chế tạo trong Thành phố và các tỉnh lân cận, đồng thời xuất khẩu góp phần nâng cao giá trị và hàm lượng chế biến, chế tạo trong cơ cấu sản xuất và xuất khẩu của của Hà Nội. Hiện nay, một số lĩnh vực sản xuất linh kiện, phụ tùng đã phát triển khá mạnh tại Hà Nội, đặc biệt là tại DN nội địa sản xuất khuôn mẫu; linh kiện, phụ tùng xe đạp, xe máy; linh kiện cơ khí tiêu chuẩn; dây cáp điện, săm lốp các loại,… Sản phẩm có chất lượng tốt, đạt yêu cầu của các công ty FDI và đáp ứng tốt nhu cầu trong nước, đồng thời xuất khẩu sang các nước Đông Á, ASEAN và EU.

Lĩnh vực hoàn thiện sản phẩm dệt, sản xuất vải dệt kim, sản xuất phụ liệu dệt may của Hà Nội chưa phát triển, các DN phải xuất vải mộc chưa qua nhuộm và hoàn tất, đang lại nhập khẩu vải đã qua xử lý về để sử dụng. Phần lớn sản phẩm dệt trong nước đều phải xuất khẩu mà không được tiêu thụ tại thị trường Việt Nam. Trong giai đoạn hiện nay CNHT ngành dệt may – da – giày đang thu hút được sự đầu tư lớn từ phía DN trong và ngoài nước nhằm tận dụng các lợi thế về thương mại của nước ta trong nhưng năm gần đây. Lĩnh vực này có khả năng gây ô nhiễm lớn, từ các quá trình xử lý dệt – nhuộm, thuộc da; đồng thời cũng là lĩnh vực sử dụng nhiều lao động, giá trị gia tăng tương đối thấp. Vì vậy, Hà Nội định hướng giảm dần lĩnh vực này trên địa bàn Thành phố, thay vào đó sẽ phát triển các lĩnh vực áp dụng công nghệ cao (sản xuất các loại vải, sợi trong nước chưa sản xuất được, phục vụ xuất khẩu hướng các DN tham gia hơn nữa vào chuỗi giá trị toàn cầu), các dịch vụ nghiên cứu, thiết kế, tạo mẫu thời trang,… nhằm nâng cao giá trị gia tăng và sử dụng hiệu quả nguồn lao động đã khá hạn chế trên địa bàn.

Các DN CNHT cho các ngành công nghiệp công nghệ cao trên địa bàn Thành phố mới đang trong quá trình hình thành và phát triển ở các lĩnh vực như linh kiện phụ tùng đã phát triển sản xuất một số linh kiện, chi tiết có độ chính xác và chất lượng cao phục vụ các ngành điện tử, thông tin, tự động hóa, khuôn gá có độ chính xác cao. Lĩnh vực thiết bị hỗ trợ, phần mềm, dịch vụ công nghiệp phục vụ cho công nghiệp công nghệ cao thông tin và sản xuất thiết bị tự động hóa, chủ yếu là một số linh kiện chính xác trên dây chuyền tự động hóa, phần mềm và dịch vụ hỗ trợ. Nhìn chung, các ngành CNHT cho ngành công nghiệp công nghệ cao ở Hà Nội mới bắt đầu phát triển, chưa đủ sức hấp dẫn nhà đầu tư; năng lực của CNHT cho các ngành công nghiệp cao ở Hà Nội mới ở dạng tiềm năng, hầu như chưa có DN chuyên sản xuất sản phẩm CNHT ngành công nghiệp công nghệ cao.

Các DN CNHT đã có sự chuyển đổi khá nhanh về quy mô hoạt động. Hiện nay các DN CNHT có quy mô lớn, rất lớn trên địa bàn Thành phố hầu như chưa có. Các DN CNHT đang gặp khó khăn khi tiếp cận được với các công nghệ sản xuất mới, nâng cao năng lực cạnh tranh về vốn, sản phẩm với các công ty lớn, vì đối với các DN CNHT còn hạn chế khá nhiều về năng lực vốn, tài chính, nhân lực, chất lượng sản phẩm, khoa học công nghệ,…

Qua khảo sát, số lượng DN CNHT ngành dệt may – da – giày là các DN ít, chủ yếu những DN ngành này là DN nhỏ (khoảng 68%). Các DN sản xuất linh kiện phụ tùng số lượng DN nhỏ chiếm khoảng 57%, nhưng ngành này lại có điều kiện mở rộng quy mô sản xuất. Điều này chứng tỏ năng lực cạnh tranh của các DN sản xuất linh kiện phụ tùng đã từng bước được nâng cao và dần dần phát triển để có thể cạnh tranh với các DN của tỉnh khác cũng như các DN quốc tế.

Trong ngành CNHT hiện này mức độ hoàn thiện của từng ngành, từng DN được chia làm 5 cấp độ khác nhau  theo mức độ hoàn thiện tăng dần, ở cấp độ 1 là cấp độ mức độ DN đang sản suất sản phẩm đơn giản nhất, đến cấp độ 5 là cấp độ mà DN đã sản xuất được sản phẩm hoàn thiện tốt nhất, có thể cung cấp ngày sản phẩm cho ngành công nghiệp hạ tầng để hoàn thiện sản phẩm. Hiện nay, các DN CNHT của Hà Nội chủ yếu mới ở cấp 1, cấp 2, cấp 3, tỷ lệ các DN CNHT ở cấp 4, cấp 5 là rất ít. Điều này càng thêm khẳng định các DN CNHT của Hà Nội mới ở cấp độ sơ khai, công nghệ sản xuất còn lạc hậu chưa tham gia sâu rộng vào chuỗi giá trị sản phẩm nói chung, cũng như tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đây là điểm yếu chung của các DN CNHT không chỉ của Hà Nội mà của cả Việt Nam. Đa số các DN CNHT mới chỉ sản xuất các nguyên vật liệu hỗ trợ thô, chứ chưa thực sự là các sản xuất CNHT tinh, có hàm lượng chất xám cao hoặc tiệm cận với các sản phẩm cuối cùng.