Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thương mại quốc tế các sản phẩm nông nghiệp ở Việt Nam

Trong phương hướng nâng cao hiệu quả kinh tế – xã hội của hoạt động thương mại quốc tế các sản phẩm nông nghiệp ở Việt Nam, trước hết cần đa dạng hoá chủng loại sản phẩm, cấp loại sản phẩm xuất khẩu, trên cơ sở có sản phẩm chủ lực cả về chủng loại sản phẩm cũng như cấp loại sản phẩm.

Thứ hai, cần tiếp tục mở rộng thị trường xuất khẩu theo hướng đa phương hoá thị trường, trên cơ sở có thị trường chiến lược. Trong công tác điều hành xuất khẩu, cần chú ý ưu tiên về mọi mặt cho thị trường chiến lược, nhằm đảm bảo chữ tín đối với thị trường này.

Thứ ba, cần quán triệt quan điểm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu nông sản theo cơ chế thị trường định hướng XHCN. Điều này vừa cho phép tăng khả năng thích ứng với thị trường của các doanh nghiệp xuất khẩu, vừa đảm bảo kiểm soát được hoạt động này trong khuôn khổ hệ thống pháp luật hiện hành.

Thứ tư, đẩy mạnh hoạt động thương mại quốc tế các sản phẩm nông nghiệp ở Việt Nam cần đảm bảo phát triển nền nông nghiệp sinh thái bền vững, bảo vệ lợi ích quốc gia. Hướng phát triển này đòi hỏi các giải pháp tăng trưởng xuất khẩu nông sản phải xác định được qui mô sản xuất hợp lý của mỗi loại sản phẩm, không thuần thuý chạy theo sản lượng mà làm hỏng môi trường sinh thái.

Trên cơ sở những định hướng lớn đó, cần thực hiện một số giải pháp cơ bản sau đây để nâng cao hiệu quả hoạt động thương mại quốc tế các sản phẩm nông nghiệp ở Việt Nam.

Thứ nhất, cần xác định được cơ cấu xuất nhập khẩu các loại nông sản một cách hợp lý. Cần khẳng định ngay rằng, Việt Nam không chỉ cần xuất khẩu, tất nhiên đây vẫn là hoạt động chính, mà còn có thể và cần phải nhập khẩu nông sản. Dĩ nhiên là việc xuất nhập đó phải trên cơ sở nguyên lý của các lý thuyết về lợi thế tuyệt đối và tương đối. Xuất khẩu những sản phẩm có lợi thế, nhập khẩu những sản phẩm mà nước ngoài có lợi thể hơn. Cơ cấu nông sản xuất nhập khẩu phải khai thác hợp lý các tiềm năng trong nước, đảm bảo bảo vệ và không ngừng tái tạo các tài nguyên trong nước, đồng thời tăng khả năng thích ứng với những biến động phức tạp của thị trường quốc tế.

Thứ hai, khẩn trương rà soát lại các qui hoạch vùng sản xuất tập trung chuyên canh trong nông nghiệp. Trong xu thế công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, việc qui hoạch các vùng tập trung chuyên canh là hết sức cần thiết. Điều đó cho phép khai thác hợp lý lợi thế so sánh để sản xuất nông sản xuất khẩu; cho phép tạo ra nguồn hàng tập trung với chất lượng tốt cho xuất khẩu; cho phép nâng cao hiệu quả của đầu tư và khai thác hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất nông sản xuất khẩu; cho phép nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp công nghiệp chế biến nông sản; và tiếp nữa, đây là giải pháp tốt định hướng cho nông dân phát triển sản xuất phù hợp với nhu cầu thị trường.

Điều quan trọng để biến qui hoạch thành hiện thực là phải thực hiện một cách đồng bộ các giải pháp khác như: tập trung giải quyết tốt các yếu tố kỹ thuật cho sản xuất ở vùng chuyên canh; đảm bảo tiêu thụ sản phẩm theo mức giá sàn hợp lý…

Thứ ba, định hướng tập trung đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật, phục vụ sản xuất và xuất khẩu cho vùng chuyên canh. Cần lưu ý rằng, đây là sự định hướng của Nhà nước, chứ không phải chỉ có nhà nước đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật ở vùng chuyên canh. Sự định hướng này cho phép biến các lợi thế ở dạng tiềm năng thành hiện thực; chuyển sản xuất nông nghiệp từ tự cấp, tự túc sang trạng thái sản xuất hàng hoá theo lợi thế của vùng; cho phép thu hút đầu tư ngoài vùng vào vùng chuyên canh.

Trong định hướng xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật ở vùng chuyên canh nông nghiệp, cần chỉ rõ loại công trình, quy mô công trình nào các doanh nghiệp phải tự đầu tư, loại nào sẽ kêu gọi đầu tư từ ngoài vào. Điều đó cũng chỉ rõ vai trò tổ chức và quản lý của nhà nước trong hình thành hệ thống hạ tầng kỹ thuật ở vùng chuyên canh.

Thứ tư, Nhà nước cần xây dựng và thực thi hệ thống chính sách bảo trợ hợp lý cho các vùng chuyên canh sản xuất nông sản xuất khẩu. Trước hết cần hoàn thiện chính sách đất đai theo hướng để nông dân yên tâm đầu tư thâm canh, tạo điều kiện pháp lý để nông dân thực hiện các giao dịch với ngân hàng thuận lợi, đồng thời thúc đẩy quá trình tập trung hoá đất đai vào tay người có trình độ và có vốn sản xuất. Đối với chính sách khoa học và công nghệ cần hướng tới việc hoàn thiện công tác quản lý chất lượng các loại vật tư và dịch vụ đầu vào cho vùng chuyên canh sản xuất nông sản xuất khẩu, đảm bảo chất lượng nông sản xuất khẩu.

Thứ năm, hoàn thiện hệ thống các cơ quan quản lý xuất hoạt động nhập khẩu nông sản, cũng như đầu mối các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Hướng hoàn thiện hệ thống này là phải bảo vệ được sản xuất trong nước, chống tranh bán ở thị trường ngoài nước, làm thiệt hại lợi ích quốc gia. Đồng thời, cần đảm bảo tính năng động cho hệ thống các doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu nông sản.

Tóm lại, để nâng cao hiệu quả của hoạt động thương mại quốc tế các sản phẩm nông nghiệp, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Trong thực hiện tổng thể nhiều giải pháp, vai trò tổ chức và quản lý của Nhà nước là hết sức cần thiết. Đồng thời cần lưu ý rằng, không chỉ có Nhà nước phải thực hiện các giải pháp đó, mà còn cả các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước cũng cần tham gia vào quá trình đó.