Phương hướng và giải pháp thúc đẩy công nghiệp hoá-hiên đại hoá nông nghiệp và nông thôn ở nước ta hiện nay và trong thời gian tới

 

   1.Những quan điểm chính về đẩy nhanh công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn trong giai đoạn hiện nay.

  Nghị quyết của Đảngđã khẳng định 5 quan điểm chính cần quán triệt về đẩy nhanh công nghiêp hoá, hiện đại hoá nông nghiêp,nông thôn trong giai đoạn tới:

-Phát triển công nghiệp, dịch vụ phải gắn bó chặt chẽ, hỗ trợ đắc lực và phục vụ hiệu quả cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.

-Ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, chú trọng phát huy nguồn lực con người, ứng dụng rộng rãi thành tựu khoa học công nghệ; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy lợi thế của từng vùng gắn với thị trường để sản xuất hàng hoá quy mô lớn với chất lượng và hiệu quả cao, bảo vệ môi trường, phòng chống, hạn chế và giảm nhẹ thiên tai, phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững.

-Dựa vào nội lực là chính, đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn lực từ bên ngoài, phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo,cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc, phát triển mạnh mẽ kinh tế hộ sản xuất hàng hoá, các loại hình doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nông thôn.

-Kết hợp chặt chẽ các vấn đề kinh tế xã hội trong qua trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nhằm giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, ổn định xã hội và phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của người dân nông thôn, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; gìn giữ,phát huy truyền thống văn hoá và thuần phong mỹ tục.

-Kết hợp chặt chẽ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn với xây dựng tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân,thể hiện trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của các ngành,các địa phương. Đầu tư phát triểnkinh tế xã hội ổn định dân cư các vùng xung yếu, vùng biên giới, cửa khẩu hải đảo phù hợp với chiến lược quóc phòng và chiến lược an ninh quốc gia.

2.Giải pháp thúc đẩy.

2-1.Quan điểm và giải pháp khắc phục những bất cập trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn hiện nay.

 a.Quan điểm.

-Phát triển toàn diện và tăng trưởng bền vững.

-Kinh tế hàng hoá găn với thị trường.

-Hiệu quả kinh tế và xã hội.

-Kinh tế mở và hội nhập quốc tế.

-Công bằng xã hội.

-Kết hợp truyền thống và hiện đại.

-Cơ cấu kinh tế gắn với lại phân công lao động nông thôn.

-Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn gắn với quy hoạch, chiến lược và mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân cả nước.

-Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn gắn với công nghiệp hoá, đô thị hoá và xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn.

   b.Giải pháp khắc phục.

-Củng cố thị trường đã có, mở rộng thị trường mớI để tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản và hàng hoá, dịch vụ phi nông nghiệp ở nông thôn.

-Hoàn chỉnh quy hoạch sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản và ngành nghề, dịch vụ ở nông thôn, theo hướng kinh tế hàng hoá gắn với thị trường.

-Đổi mới phương thức tổ chức sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng phát triển kinh tế nhiều thành phần gắn với chuyên môn hoá, tập trung hoá và hợp tác hoá cao hơn.

-Ứng dụng rộng rãi những thành tựu khoa học-kỹ thuật vào sản xuất và dịch vụ nhằm tăng năng suất lao động, năng suất đất đai, chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất, tăng sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá và sản phẩm ngành nghề, dịch vụ nông thôn.

-Tổng kết thực trạng, nhân rộng các mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, đồng thời uốn nắn xu hướng lệch lạc, bảo thủ của người nông dân.

-Đổi mới nội dung và phương pháp tuyên truyền, vận động hộ nông dân và hộ ngành nghề, dịch vụ nông thôn.

3.Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng.

Hướng tăng cường vai trò của nhà nước:

-Nghiên cứu, rà soát lại các cơ chế chính sách đã ban hành để bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu và điều kiện hiện nay.Trước mắt, các chính sách về đất đai, về thuế và lệ phí, về đầu tư và cho vay, về tiêu thụ nông sản,về ngành nghề và dịch vụ nông thôn cần được hoàn thiện theo hướng thông thoáng hơn.

-ĐổI mới nội dung và phương pháp đầu tư trong nông nghiệp và nông thôn theo hướng: tăng tỷ lệ vốn đầu tư cho công nghiệp và dịch vụ nông thôn, ưu tiên cho công nghiệp chế biến nông sản các làng nghề truyền thống có sản phẩm xuất khẩu lớn, xây dựng và nâng cấp kết cấu hạ tầng nông thôn, xoá đói giảm nghèo.

-Hoàn thiện cơ chế chính sách vĩ mô nhằm thu hút mạnh mẽ mọi nguồn vốn trong nước và vốn đâù tư ở nước ngoài vào nông nghiệp và nông thôn.

4. Đào tạo phát triển nhân lực.

-Đào tạo nông dân: thực hiện các trương trình đào toạ nông dân, đưa tỷ lệ lao động được đào tạo từ 8% như hiện nay lên 20-30% vào năm 2010, áp dụng chủ yếu các hình thức đào tạo ngắn ngày, tại chỗ vừa học vừa làm.

-Đào tạo cán bộ quản lý: Nhà nước đầu tư thoả đáng đào tạo dội ngũ cán bộ quản lý nhà nước, cán bộ hợp tác xã. Tới năm 2010 tất cả cán bộ loại này phải được đào tạo cơ bản.

-Đào tạo cán bộ kỹ thuật: Nhà nước đầu tư củng cố hệ thống đào tạo kỹ thuật nghành nông nghiệp và phát triển nông thôn, cấp học bổng toàn phần cho con em nông dân theo học các ngành về phục vụ ở nông thôn ở các bậc trung cấp, cao đẳng và đại học.

-Trong việc phát triển ngành nghề, dịch vụ,công nghiệp nông thôn, vấn đề đào tạo và dạy nghề có vị trí hết sức quan trọng.Cần chú ý dành vốn ngân sách đầu tư nâng cấp các cơ sở dạy nghề của Nhà nước, đồng thời có cơ chế, chính sách khuyến khích xã hội hoá, phát triển các hình thức dạy nghề đa dạng và có chính sách để những người được đào tạo về làm việc ở nông thôn, nhất là miền núi và vùng sâu, vùng xa.

5. Thực hiện tốt các chính sách.

   a.Chính sách đất đai

Khuyến khích việc chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp, khắc phục tình trạng phân tán, manh mún trong sản xuất nông nghiệp.Tăng cường quản lý của nhà nước về đất đai.

    b.Chính sách thị trường và thương mại.

Tăng cường quản lí của nhà nước về tiêu chuẩn hoá, giám sát chất lượng vệ sinh dịch tễ và an toàn thực phẩm. Đẩy mạnh công tác phát triển thị trường và xúc tiến thương mại để tăng cường khả năng tiêu thụ nông, lâm sản trên thị trường trong và ngoài nước.

    c.Chính sách khoa học công nghệ.

Tăng cường nhập khẩu  công nghệ của nước ngoài, nhất là các loại giống, máy móc, thiết bị và các công nghệ chế biến hiện đại.Tăng cường hệ thống khuyến nông trên cơ sở xã hội hoá.

    d.Chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài.

Đặc biệt khuyến khích các công ty đa quốc gia hoặc các nước kiểm soát thị phần lớn trên thị trường nông sản quốc tế đầu tư vào Việt Nam để khai thác các thế mạnh về thị trường của họ.

Khuyến khích đầu tư 100% vốn nước ngoài hoặc liên doanh, liên kết giữa nhân dân, công ty cổ phần trong nước và tư nhân nước ngoài.

6. Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ vào nông nghiệp nông thôn.

Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ,thực hiện thuỷ lơị hoá, điện khí hoá, cơ giới hoá. Tăng nhanh trang bị kỹ thuật, đổi  mới công nghệ trong sản xuất nông nghiệp, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật tiên tiến cho nông dân.Nhà nước cần tạo điều kiện để đẩy mạnh sản xuất và sử dụng sản phẩm cơ khí phục vụ cho nông nghiệp, đặc biệt là các trang thiết bị vừa và nhỏ.Nâng cao dần trình độ công nghệ chế biến, công nghệ thu hoạch. Lựa chọn và nhanh chóng tiếp thu những công nghệ hiện  đại phương pháp quản lý tiên tiến ở những khâu, những ngành then chốt, có ý nghĩa quyết định và tác động trực tiếp đến việc đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ của nhiều ngành khác.Nhà nước cần đào tạo cán bộ khoa học, công nhân kỹ thuật, các nhà kinh doanh cho nông nghiệp nông thôn.

7 . Đem kinh tế tri thức vào quá trình công nghiệp hoá hiện đại  hoá nông nghiệp và nông thôn ở nước ta.

Kinh tế tri thức là giai đoạn phát triển mới của lực lượng sản xuất xã hội loài người.Báo cáo chính trị đại Đại hội IX của Đảng đã nêu:“Thế kỷ XXI sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi, khoa học công nghệ sẽ có bước nhảy vọt.Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất”

Sự chuyển từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp là sự chuyển từ lao động  thủ công sang lao động máy móc, từ kinh tế lao động sang kinh tế tài nguyên. Sự chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức là sự chuyển từ nền kinh tế dựa vào lao động và tài nguyên sang kinh tế dựa chủ yếu vào trí tuệ con người.

Kinh tế trí thức là cơ hội to lớn cần nắm băt để nước ta có thể rút ngắn khoảng cách với các nước.Sự phát triển của khoa học công nghệ và xu thế hình thành kinh tế tri thức mở ra cho chúng ta những khả năng mới, những triển vọng mới về cách đi tắt đón đầu, không nhất thiết phải đi qua những giai đoạn, những phát triển mà các nước khác đã phải trải qua, vì chưa có những khả năng công nghệ như ngày nay.

Đảng đã chỉ rõ: “Con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những tuần tự, vừa có bước nhảy vọt.Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn  những thành tựu mới về khoa học công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức”.

Động lực thúc đẩy phát triển kinh tế tri thức ở nông thôn:

-Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, phát triển mạnh mẽ giáo dục ở nông thôn.

-Phát triển hệ thống giáo dục thường xuyên,thành lập các trung tâm học tập cộng đồng ở xã.

-Có cơ chế chính sách, biện pháp tổ chức đưa nhanh tiến bộ khoa học về nông thôn.

-Phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin.

-Đổi mới tổ chức quản lý.