Phương pháp phân chia và phương pháp Dupont tại các doanh nghiệp đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng (tham khảo)

* Về phương pháp phân chia
Phương pháp phân chia nên được sử dụng kết hợp với phương pháp so sánh để có sơ sở đánh giá cụ thể hơn về các chỉ tiêu phân tích tổng hợp. Do đó, nó thích hợp sử dụng để phân tích một số chỉ tiêu mà bản thân chỉ tiêu đó có thể chia nhỏ thành những bộ phận theo yếu tố cấu thành, theo thời gian hoặc theo không gian. Tùy thuộc vào mục tiêu phân tích để nhà phân tích lựa chọn tiêu thức phân chia chỉ tiêu một cách phù hợp.

Phương pháp phân chia nên được áp dụng với các chỉ tiêu như: “Lợi nhuận trước thuế và lãi vay”, “Lợi nhuận sau thuế thu nhập DN”, “Quỹ phát triển KH&CN”, “Mức đóng góp vào NSNN”, “Số lao động có việc làm thường xuyên”, “Tình hình trích nộp BHXH”,… Bên cạnh đó, khi sử dụng phương pháp loại trừ để đánh giá về các nhân tố ảnh hưởng tới chỉ tiêu phân tích cũng có thể kết hợp sử dụng phương pháp phân chia để xem xét cụ thể biến động của các yếu tố cấu thành tới nhân tố ảnh hưởng đang xem xét.

Sau đây, tác giả sử dụng tài liệu của Công ty TNHH MTV 189 để minh họa nhằm làm rõ hơn việc hoàn thiện phương pháp này.
Giả sử chọn chỉ tiêu phân tích là “Lợi nhuận trước thuế và lãi vay” (EBIT). Nếu phân tích nhằm đánh giá về nguồn đảm bảo thu nhập cho các đối tượng thụ hưởng, EBIT có thể được chia (theo yếu tố cấu thành) gồm 3 phần : “NP” thuộc chủ sở hữu; “I” thuộc về chủ nợ; “T” thuộc về Nhà nước. Sử dụng số liệu trên Báo cáo tài chính của Công ty TNHH MTV 189 giai đoạn 2013-2017, tác giả lập bảng và biểu đồ phân tích như sau:

Bảng 3.4 và Biểu 3.5 cho thấy, trong các năm 2013, 2016, 2017, Công ty không huy động vốn vay nên không phát sinh chi phí lãi vay. Do vậy, lợi nhuận trước thuế và lãi vay của Công ty trong những năm này được dùng để trang trải cho việc nộp thuế thu nhập DN, phần còn lại thuộc về chủ sở hữu. Riêng 2 năm 2014 và 2015, Công ty có huy động vốn vay, do vậy lợi nhuận trước thuế và lãi vay của Công ty trước hết dùng để chi trả lãi vay (phần chi phí này không lớn), sau đó nộp thuế thu nhập DN, phần còn lại thuộc chủ sở hữu.

Như vậy, cùng chỉ tiêu phân tích là “Lợi nhuận trước thuế và lãi vay”, nhưng với việc kết hợp sử dụng phương pháp chi tiết đã cho phép các nhà phân tích đưa ra những đánh giá cụ thể hơn người sử dụng thông tin hiểu rõ hơn về chỉ tiêu này.

* Về phương pháp Dupont

Phương pháp phân tích Dupont có ý nghĩa lớn đối với phân tích hiệu quả hoạt động về mặt kinh tế ở phương diện tài chính qua các chỉ tiêu khả năng sinh lời. Bản chất của phương pháp này là tách chỉ tiêu phân tích thành một tập hợp liên kết của nhiều chỉ tiêu khác, mà mỗi chỉ tiêu đó được cấu thành bởi nhiều nhân tố khác nhau. Kết quả sử dụng phương pháp này có thể giúp nhà phân tích đưa ra những đánh giá đầy đủ và khách quan về mỗi bộ phận trong tập hợp các chỉ tiêu đó và tác động của chúng tới chỉ tiêu phân tích, từ đó phát hiện những khả năng tiềm tàng có thể khai thác bằng việc cải tiến tổ chức quản lý của DN.

Nguồn tài liệu để phân tích Dupont chủ yếu được lấy từ hệ thống báo cáo tài chính, do đó nếu DN đã sử dụng phần mềm kế toán thì nên tích hợp ứng dụng này vào phần mềm kế toán của DN. Chi phí bổ sung cho việc tích hợp công cụ này nhìn chung sẽ không đáng kể vì kỹ thuật thực hiện không phức tạp, quan trọng là DN trao đổi để làm rõ với các chuyên gia công nghệ về bản chất của phương pháp Dupont và ý tưởng của DN về vận dụng phương pháp này. Trường hợp DN chưa sử dụng phần mềm kế toán thì việc tính toán số liệu để phân tích Dupont lên được thiết lập sẵn trên bảng tính Excel và có sự liên kết với số liệu của báo cáo tài chính để có được ngay kết quả và áp dụng kế thừa trong nhiều kỳ, không phải đặt lại công thức tính toán hàng kỳ. Việc thiết lập công thức tính toán số liệu để phân tích Dupont trên bảng tính Excel khá đơn giản, thông thường kế toán của DN đủ năng lực xử lý vấn đề này, DN dễ dàng tìm được hướng dẫn và file mẫu ứng dụng mô hình Dupont trong Excel với từ khóa tìm kiếm “file excel cho mô hình Dupont” hoặc liên hệ với tác giả luận án để được hướng dẫn cụ thể hơn.

Trên thực tế hiện nay, khi sử dụng phương pháp này để phân tích hiệu quả hoạt động, thường tiến hành với chỉ tiêu ROE, có thể thực hiện phân tích Dupont 3 bước, 5 bước hoặc nhiều hơn nữa tùy theo nhu cầu thông tin và kỹ năng của nhà phân tích. Nếu là mô hình 3 bước, ROE được cấu thành bởi 3 chỉ tiêu: “Khả năng sinh lời hoạt động”, “Hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh” (hay “Vòng quay vốn kinh doanh), nghịch đảo của “Hệ số tự tài trợ bình quân” (biểu hiện đòn bẩy tài chính). Mặt khác, khi phân tích ROE có thể kết hợp đánh giá về ROA và ROS vì giữa các chỉ tiêu này luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau.

Dưới đây, để đơn giản hóa nhằm giới thiệu mô hình Dupont trực quan và dễ hiểu hơn, tác giả luận án đã thiết lập công thức tính toán số liệu và tiến hành nhập liệu để từ đó thực hiện phân tích Dupont theo mô hình 3 bước, trên cơ sở số liệu báo cáo tài chính của Công ty TNHH MTV 189 giai đoạn 2013-2017 và rút gọn đơn vị tính giá trị 1.000.000đ.

Kết quả tính toán ROE bằng việc sử dụng phương pháp Dupont (Sơ đồ 3.3) và phương pháp so sánh (Biểu 3.6 và các bảng, biểu ở phần hoàn thiện phương pháp so sánh) hoàn toàn thống nhất. Tuy nhiên, phương pháp so sánh chưa giúp phát hiện thực chất điều gì khiến ROE biến động, do vậy nhà phân tích của Công ty cần kết hợp sử dụng phương pháp Dupont để làm rõ vấn đề này.

Kết quả của ROE cho thấy: bình quân cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu đầu tư trong Công ty góp phần tạo ra lợi nhuận sau thuế thu nhập DN qua mỗi năm từ 2013 đến 2017 lần lượt là: 3,33 đồng; 3,81 đồng; 3,85 đồng; 4,43 đồng; 5,29 đồng. Các con số về ROE của Công ty trong giai đoạn này còn khá khiêm tốn, nhưng trước những khó khăn chung do khủng hoảng ngành đóng tàu và một số ngành liên quan trực tiếp khác như ngành vận tải biển, ngành thép,…; đối chiếu với nhiều DN đóng tàu khác trên cùng địa bàn có quy mô và điều kiện kinh doanh khá tương đồng đang bị thua lỗ nặng nề thì số liệu nêu trên chứng tỏ Công ty TNHH MTV 189 đang hoạt động có hiệu quả về mặt kinh tế ở phương diện tài chính.

ROE phụ thuộc vào ba nhân tố là ROS, HSkd và . Các nhân tố này diễn biến trong 5 năm qua đều ở mức thấp, trong đó thấp nhất là HSkd. Cụ thể như sau:

Từ năm 2013 đến 2017, ROS của Công ty TNHH MTV 189 lần lượt là: 2,89%; 3,38%; 2,11%; 2,10%; 3,56%. Như vậy, 5 năm qua, ROS của Công ty luôn dương, đây là cơ sở nền tảng để đảm bảo cho Công ty tăng trưởng ổn định. Tuy nhiên, biến động của ROS có những thăng trầm khác nhau qua từng năm theo xu hướng không ổn định: xu hướng tăng diễn ra ở các năm 2014, 2017 và xu hướng giảm ở các năm 2015, 2016; xét chung cả quá trình 5 năm từ 2013-2017, ROS có chiều hướng tăng lên. Mặc dù ROS chưa cao, nhưng cũng đã thể hiện được thành quả của Công ty trong việc nỗ lực phấn đấu khắc phục khó khăn do tác động chủ yếu của môi trường kinh doanh bên ngoài đơn vị. Trong thời gian tới, Công ty cần cố gắng hơn nữa để cải tiến ROS thông qua những việc làm cụ thể như xây dựng và hoàn thiện hệ thống định mức kinh tế, kỹ thuật nội bộ, hệ thống dự toán chi phí, xem xét và sử dụng đòn bẩy kinh doanh khi thực hiện chính sách đầu tư các loại tài sản cố định, cần đảm bảo tính hợp lý trong biến động về doanh thu và chi phí của từng loại hoạt động.

Trong 5 năm qua, “Hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh” (HSkd) của Công ty rất thấp, biến động qua các năm lần lượt như sau: 0,557 lần; 0,481 lần; 0,651 lần; 0,725 lần; 0,718 lần. Những con số này cho thấy, bình quân 1 đồng vốn kinh doanh chỉ góp phần tạo ra thấp nhất là 0,418 đồng và cao nhất là 0,725 đồng thu nhập thuần từ các hoạt động; nói cách khác, vốn kinh doanh của Công ty được đưa vào sử dụng phải sau hơn 1 năm đến hơn 2 năm mới quay được 1 vòng. Kết quả này, một mặt do đặc thù của ngành đóng tàu với chu kỳ sản xuất dài nên vốn luân chuyển chậm, mặt khác do khủng hoảng kinh tế khiến cho số lượng và giá trị đơn hàng giảm mạnh, có ảnh hưởng tiêu cực tới mức độ hoạt động của tất cả các DN đóng tàu, trong đó có Công ty TNHH MTV 189. Trong thời gian tới, Công ty cần nâng cao hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh bằng việc tập trung cải tiến quy trình hoạt động, rút ngắn thời gian thực hiện đơn hàng (với điều kiện chất lượng đơn hàng được đảm bảo), nỗ lực tìm kiếm đơn hàng mới và nâng cao công suất sử dụng các nguồn lực hiện có,…

Nhân tố (biểu hiện “Đòn bẩy tài chính”) của Công ty tăng đều qua các năm từ 2013 đến 2016 lần lượt là 2,07 lần; 2,34 lần; 2,8 lần; 2,91 lần; nhưng đến năm 2017, chỉ tiêu này giảm xuống còn 2,31 lần. Các con số này được hiểu rằng: mỗi 1 đồng vốn kinh doanh của Công ty được đưa và sử dụng có khả năng khuếch đại khả năng sinh lời của 1 đồng vốn chủ sở hữu thêm 2,07 lần (năm 2013); 2,24 lần (năm 2014); 2,8 lần (năm 2015); 2,91 lần (năm 2016) và 2,31 lần (năm 2017) nhờ sự đóng góp của các khoản nợ. Hoạt động của Công ty 5 năm qua đều có lãi, do vậy đòn bẩy tài chính đã phát huy tác dụng; nếu Công ty không sử dụng nợ thì ROE của Công ty chỉ đạt bằng với ROA: 1,61% (năm 2013); 1,63% (năm 2014); 1,38% (năm 2015); 1,53% (năm 2016) và 2,56% (năm 2017). Trước tình hình đó, nếu trong thời gian tới Công ty được Tổng cục công nghiệp Quốc phòng giao thêm nhiệm vụ đóng mới hoặc Công ty tìm kiếm được đơn hàng mới về sản phẩm kinh tế, nhu cầu vốn sẽ gia tăng, khi đó Công ty nên tăng vốn huy động từ vay, nợ (trong phạm vi kiểm soát được nợ) để tận dụng sức mạnh của đòn bẩy tài chính trong việc thúc đẩy ROE.

Qua tìm hiểu tác giả được biết: công ty TNHH MTV 189 đã sử dụng phần mềm kế toán từ khá sớm (hơn 15 năm trước). Hiện tại, việc phân tích hiệu quả tài chính được ban Giám đốc công ty giao cho phòng kế toán kiêm nhiệm. Do vậy, theo tác giả, công ty TNHH MTV 189 nên cải tiến phần mềm kế toán có tích hợp tính toán số liệu tự động để phân tích Dupont ngay trên phần mềm kế toán.

Trên thực tế với đặc tính phát triển theo chu kỳ của DN đóng tàu khoảng 10 năm, nhà phân tích nên lấy số liệu trong 10 năm để rút ra tính quy luật và thuận trong việc đề xuất các giải pháp ứng phó với những biến động mang tính chu kỳ. Mặt khác, nếu các đối tượng sử dụng thông tin cần những thông tin cụ thể hơn, không khó khăn để cán bộ phân tích có thể tìm hiểu và thực hiện phân tích theo mô hình Dupont nhiều hơn 3 bước.