Phương thức tín dụng chứng từ là gì?

Khái niệm

Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận, trong đó một ngân h àng – ngân hàng mở thư tín dụng – theo yêu cầu của khách hàng – người yêu cầu mở thư tín dụng – sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác – người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng – hoặc chấp nhận hối phiếu d o người này ký phát trong ph ạm vi số tiền đó khi ng ười này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng.

Các bên tham gia trong phương thức tín dụng chứng từ

Người xin mở th ư tín dụng là người mua, người nhập khẩu hàng hóa hoặc người mua ủy thác cho một người khác

Ngân hàng mở thư tín dụng là ngân hàng đại diện cho người nhập khẩu, nó cấp tín dụng cho người nhập khẩu

Người hưởng lợi thư tín dụng là người bán, người xuất khẩu hay bất cứ người nào khác mà người hưởng lợi chỉ định

Ngân hàng thông báo thư tín dụng là ngân hàng ở nước người hưởng lợi.

Ngoài 4 đối tượng trên, trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ còn có thể xuất hiện thêm hai ngân hàng, đó là ngân hàng xác nh ận nếu là loại thư tín dụng xác nhận và ngân hàng thanh toán nếu ngân hàng mở thư tín dụng không trực tiếp thanh toán m à chỉ định một ngân hàng khác thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu.

Trình tự tiến hành nghiệp vụ phương thức tín dụng chứng từ

(1)   Người nhập khẩu làm đơn xin mở thư tín dụng gửi đến ngân hàng của mình yêu cầu mở một thư tín dụng cho người xuất khẩu hưởng

(2)   Căn cứ vào đơn xin m ở thư tín dụng, ngân hàng mở thư tín dụng sẽ lập một th ư tín dụng và thông qua ngân hàng đại lý của mình ở nước người xuất khẩu thông báo việc mở thư tín dụng và chuyển thư tín dụng đến người xuất khẩu

(3)   Khi nhận được thông báo này, ngân hàng thông báo sẽ thông báo cho người xuất khẩu toàn bộ nội dung thông báo về việc mở thư tín dụng đó, khi nhận được bản gốc thư tín dụng thì chuyển ngay cho người xuất khẩu

(4)   Người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụng thì tiến hành giao hàng, nếu không đề nghị ngân hàng mở L/C sửa đổi, bổ sung thư tín dụng cho phù hợp với hợp đồng

(5)  Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu của thư tín dụng xuất trình thông qua ngân hàng thông báo cho ngân hàng mở thư tín dụng xin thanh toán

(6)  Ngân hàng m ở thư tín dụng kiểm tra bộ chứng t ừ, nếu thấy ph ù hợp với thư tín dụng thì tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu. Nếu thấy không phù hợp, ngân hàng từ chối thanh toán và gửi trả lại toàn bộ chứng từ cho người xuất khẩu

(7)  Ngân hàng mở thư tín dụng đòi tiền người nhập khẩu và chuyển bộ chứng từ cho người nhập khẩu sau khi nhận được tiền hoặc chấp nhận thanh toán

(8)  Người nhập khẩu kiểm tra chứng từ, nếu thấy ph ù hợp với thư tín dụng thì hoàn trả tiền lại cho ngân hàng mở thư tín dụng, nếu không thì có quyền từ chối trả tiền

Dưới đây trình bày chi tiết hơn về qui trình nghiệp vụ của hai ngân hàng không thể thiếu liên quan trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, đó l à ngân hàng mở L/C và ngân hàng thông báo L/C. (Hình 4.8 và 4.9.)

Trước hết, đối với ngân hàng mở L/C, căn cứ vào đơn xin mở L/C của người nhập khẩu để phát hành L/C và tìm cách thông báo L/C đó cùng với việc gửi bản gốc L/C cho người xuất khẩu. Thông thường việc thông báo và gửi L/C phải thông qua một ngân h àng đại lý của nó ở nước người xuất khẩu. Cũng có thể ngân hàng này gửi thẳng bản gốc L/C cho người xuất khẩu.

Nếu có yêu cầu sửa đổi, bổ sung của người xin mở L/C của người xuất khẩu đối với L/C, ngân hàng tiến hành sưae đổi, bổ sung khi có văn bản chính thức của khách hàng gửi đến.

Ngân hàng có trách nhi ệm kiểm tra chứng từ của người xuất khẩu gửi đến, nếu chứng từ phù hợp với những điều quy định trong L/C và không mâu thuẫn lẫn nhau thì trả tiền cho người xuất khẩu và đòi tiền người nhập khẩu, ngược lại thì từ chối thanh toán. Khi kiểm tra chứng từ của người xuất khẩu gửi đến, ngân hàng chỉ chịu trách nhiệm kiểm tra “bề ngoài” của chứng từ có phù hợp với L/C hay không chứ không chịu trách nhiệm về kiểm tra tính chất pháp lý và tính chính xác của chứng từ v.v.. Mọi sự tranh chấp về tính chất “bên trong” của chứng từ là do người nhập khẩu và xuất khẩu tự giải quyết.

Ngân hàng được miễn trách nhiệm trong trường hợp ngân hàng rơi vào đúng các bất khả kháng như chiến tranh, đình công, nổi lọan, lụt lội, động đất v.v.. Nếu L/C hết hạn giữa lúc đó, ngân hàng cũng không chịu trách nhiệm thanh toán những bộ chứng từ gửi đến vào dịp đó, trừ khi đã có những quy định dự phòng. Mọi hậu quả sinh ra do lỗi của mình, ngân hàng mở L/C phải chịu trách nhiệm. Ngân hàng được hưởng một khoản thủ tục phí mở L/C thông thường từ 0,125% đến 0,5% trị giá của L/C.

Đối với ngân hàng thông báo. Ngân hàng thông báo là ngân hàng đại lý của ngân hàng mở L/C ở nước người xuất khẩu. Quyền lợi và nghĩa vụ chủ yếu của ngân hàng thông báo như sau:

Khi nhận được điện thông báo L/C của ngân hàng mở L/C, ngân hàng này sẽ chuyển toàn bộ nội dung L/C đã nhận cho người xuất khẩu dưới hình thức văn bản.

Ngân hàng thông báo chỉ chịu trách nhiệm chuyển nguy ên văn bức điện đó chứ không chịu trách nhiệm phải dịch, diễn giải các từ chuyên môn ra ti ếng địa phương. Nếu ngân hàng thông báo sai những nội dung điện đã nhận được thì ngân hàng phải chịu trách nhiệm. Vì vậy trong cuối bức thư báo L/C bao giờ cũng có câu ”Xin lưu ý, chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ một sự lỗi lầm hay thiếu sót trong chuyển và dịch bức điện này”.

Khi nhận được bộ chứng từ của người xuất khẩu gửi đến, ngân h àng phải chuyển ngay và nguyên vẹn bộ chứng từ đó cho ngân hàng mở L/C.

Ngân hàng không chịu trách nhiệm về những hậu quả phát sinh do sự chậm trễ và/hoặc mất mát chứng từ trên đường đi đến ngân hàng mở L/C, miễn là chứng minh rằng mính đã chuyển nguyên vẹn và đúng hạn bộ chứng từ đó qua bưu điện.

Ngoài hai ngân hàng mở L/C và ngân hàng thông báo L/C, còn có thể có ngân hàng xác nhận và ngân hàng trả tiền.

Ngân hàng trả tiền là ngân hàng mở L/C và có thể là một ngân hàng khác do ngân hàng mở L/C ủy nhiệm.

Nếu địa điểm trả tiền quy định tại n ước người xuất khẩu thì ngân hàng trả tiền là ngân hàng thông báo. Trách nhiệm của ngân hàng trả tiền giống như ngân hàng mở L/C khi nhận được bộ chứng từ do người xuất khẩu gửi đến.

Ngân hàng xác nhận là ngân hàng đứng ra xác nhận cho ngân hàng mở L/C theo yêu cầu của nó. Ngân hàng xác nhận thường là một ngân hàng lớn có uy tín trên thị trường tín dụng và tài chính quốc tế. Ngân hàng mở L/C phải yêu cầu một ngân hàng khác xác nhận cho mình sẽ làm giảm uy tín của ngân h àng mở L/C. Muốn xác nhận, ngân h àng mở L/C phải trả thủ tục phí rất cao và đôi khi còn phải đặt trước nữa, thậm trí mức đặt trước có thể bằng 100% trị giá của thư tín dụng.

Thư tín dụng (Letter of Credit – L/C): Thư tín dụng thương mại là một công cụ quan trọng của phương thức tín dụng chứng từ. Theo Trầm Thị Xuân Hương (2006), thư tín dụng là một bức thư (thực chất là một văn bản)do ngân hàng lập theo yêu cầu của nhà nhập khẩu cam kết trả tiền cho nhà xuất khẩu với điều kiện nh à xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ thanh toán phù hợp với điều khoản và điều kiện đã ghi trng thư tín dụng.

Thư tín dụng hay L/C là một văn bản pháp lý quan trọng, là công cụ cốt lõi của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ. Nó bao gồm những nội dung chủ yếu sau:

(1)   Số hiệu, địa điểm và ngày mởL/C, loại thư tín dụng. Về số hiệu, tất cả các th ư tín dụng đều phải có số hiệu ri êng của nó để có thể trao đổi thư từ, điện tín có liên quan đến việc thực hiện thư tín dụng. Có thư tín dụng ghi ngay đầu dòng bên phải câu “Đề nghị ghi tín dụng số .. trên các thư từ giao dịch”. Số hiệu của thư tín dụng còn được dùng để ghi vào các chứng từ có liên quan.

Địa điểm mở L/C là nơi mà ngân hàng mở L/C viết cam kết trả tiền cho người xuất khẩu. Địa điểm này có ý nghĩa trong việc chọn luật áp dụng khi xảy ra tranh chấp nếu có xung đột pháp luật về L/C đó.

Ngày mởL/C là ngày bắt đầu phát sinh cam kết của ngân h àng mở L/C với người xuất khẩu, là ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực của L/C và cuối cùng là căn cứ để người xuất khẩu kiểm tra xem người nhập khẩu thực hiện việc mở L/C có đúng hạn như đã quy định trong hợp đồng không.

Ví dụ:

Một thư tín dụng mở ngày 1/1/1998, trong nội dung của thư tín dụng có câu “We open our irrevocable credit in favour of yourselves by order of Mutsumi Tranding Co Ltd Tokyo for not exceeding the amount of 35,000USD expiring in Hanoi for negociation on 31st January 1998”, tức là “Chúng tôi mở tín dụng không thể hủy ngang cho quý ngài theo lệnh của Công ty Thương mại hữu hạn Mutsumi Tokyo một số tiền không quá 35,000USD có giá trị đến ngày 31/1/1998 tại Hà Nội”

Như vậy, thời hạn hiệu lực của thư tín dụng này tính từ ngày mở, tức là từ ngày 1/1/1997 đến ngày hết hạn là 31/1/1998 là 30 ngày.

Có thư tín dụng quy định thời hạn hiệu lực của nó ngay trong những dòng đầu tiên của nội dung L/C, có thư tín dụng lại nêu ở cuối cùng trong phần ngân hàng cam kết trả tiền.

Loại thư tín dụng phải được chỉ rõ trong yêu cầu mở thư tín dụng do người nhập khẩu gửi đến ngân hàng mở L/C.

(2)   Tên, địa chỉ của những người có liên quan đến phương thức tín dụng chứng từ.

Những người có liên quan đến phương thức tín dụng chứng từ nói chung có hai loại,đó là các thương nhân và các ngân hàng.

Các thương nhân chỉ bao gồm những người nhập khẩu, tức l à người yêu cầu mở L/C; người xuất khẩu là người hưởng lợi L/C.

Các ngân hàng tham gia trong phương th ức tín dụng chứng từ gồm có ngân hàng mở L/C, ngân hàng thông báo, ngân hàng trả tiền, ngân hàng xác nhận v.v..

Ngân hàng mở L/C là ngân hàng thường được hai bên mua bán thỏa thuận lựa chọn và quy định trong hợp đồng, nếu chưa có sự quy định trước, người nhập khẩu có quyền lựa chọn.

(3)  Số tiền của thư tín dụng.

Số tiền của thư tín dụng vừa được ghi bằng số, vừa đ ược ghi bằng chữ và thống nhất với nhau. Không thể chấp nhận một thư tín dụng có số tiền ghi bằng số và bằng chữ mâu thuẫn nhau.

Tên của đơn vị tiền tệ phải r õ ràng, vì cùng một tên gọi là đôla nhưng trên th ế giới có nhiều loại đôla khác nhau. Không nên ghi số tiền dưới dạng một số tuyệt đối. Cách ghi số tiền tốt nhất là ghi một số giới hạn mà người xuất khẩu có thể đạt được dù là giao hàng có tính chất là nguyên cái hay là rời. Ví dụ như ghi “. một số tiền không quá X USD..” (For a sum or sums not exeeding a total of X USD..)

Theo bản “Quy tắc & Thực hành thống nhất Tín dụng chứng từ” thì những từ “khoảng chừng”, “độ khoảng” hoặc những từ ngữ tương tự được dùng để chỉ mức độ số tiền của thư tín dụng được hiểu là cho phép xê dịch hơn kém không được quá 10% của tổng số tiền đó.

Ngoài ra, bản quy tắc còn quy định “trừ khi thư tín dụng quy định số lượng hàng giao không được hơn kém, còn thì sẽ được phép có một khoản dung sai trong phạm vi hơn kém 5%, miễn là tổng số tiền chi trả luôn luôn không được vượt quá số tiền của thư tín dụng. Không được áp dụng dung sai này khi thư tín dụng quy định số l ượng bằng đơn vị bao, kiện đã được nói rõ hoặc tính bằng đơn vị chiếc”.

(4)   Thời hạn hiệu lực, thời hạn trả tiền và thời hạn giao hàng ghi trong thư tín dụng.

Thời hạn hiệu lực của thư tín dụng là thời hạn mà ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền

cho người xuất khẩu, nếu người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ trong thời hạn đó và phù hợp với những điều quy định trong L/C. Thời hạn hiệu lực của L/C bắt đầu tính từ ngày mở L/C đến ngày hết hiệu lực L/C.

Ở một số nước quy định là nếu thời hạn hiệu lực của L/C dưới 3 tháng thì phí thông báo L/C chỉ phải chịu 0,1%, nếu trên 3 tháng đến 6 tháng thì là 0,2%. Vì vậy cần xác định thời hạn hiệu lực của L/C hợp lý để có thể vừa tránh đọng vốn cho người nhập khẩu vừa không gây khó khăn cho việc xuất trình chứng từ của người xuất khẩu. Việc xác định này cần đảm bảo ngày giao hàng phải nằm trong thời hạn hiệu lực của L/C và không được trùng với ngày hết hạn hiệu lực của L/C, ngày mở L/C phải trước ngày giao hàng một thời gian hợp lý, không được trùng với ngày giao hàng. Nó được tính tối thiểu bằng tổng số của số ngày cần để thông báo mở L/C, số ngày lưu L/C ở ngân hàng thông báo, số ngày chuẩn bị hàng để giao cho người nhập khẩu. Nếu h àng xuất khẩu là mặt hàng phức tạp phải điều động từ xa ra cảng và phải tái chế biến lại được khi giao, nếu thời điểm giao hàng vào mùa ẩm ướt thì số ngày chuẩn bị hàng phải nhiều, ngược lại nếu hàng xuất khẩu là sản phẩm công nghiệp thì không cần thiết đòi hỏi số ngày chuẩn bị quá lớn, ngày hết hạn hiệu lực L/C phải sau ngày giao hàng một thời gian hợp lý. Nó bao gồm số ngày chuyển chứng từ từ nơi giao hàng đến cơ quan của người xuất khẩu, số ngày lập bộ chứng từ, số ngày vận chuyển chứng từ đến ngân hàng mở L/C (hay ngân hàng trả tiền), số ngày lưu giữ chứng từ tại ngân hàng thông báo và 7 ngày làm việc để ngân hàng thể hiện ý chí chấp nhận hay từ chối trả tiền.

Thời hạn trả tiền của L/C là thời hạn trả tiền ngay hay trả tiền về sau. Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào quy định của hợp đồng. Nếu việc đòi tiền bằng hối phiếu thì thời hạn trả tiền được quy định ở yêu cầu ký phát hối phiếu. Thời hạn trả tiền có thể nằm trong thời hạn hiệu lực của L/C nếu như trả tiền ngay hoặc có thể nằm ngoài thời hạn hiệu lực của L/C nếu như trả tiền có kỳ hạn. Nhưng điều quan trọng là những hối phiếu có kỳ hạn phải được xuất tình để chấp nhận trong thời hạn hiệu lực của L/C.

Thời hạn giao hàng được ghi trong L/C và do hợp đồng mua bán quy định. Nó có quan hệ chặt chẽ với thời hạn hiệu lực của L/C.

(5)   Những nội dung về hàng hóa như tên, số lượng, trọng lượng, giá cả, quy cách phẩm chất, bao bì, ký mã hiệu v.v.. cũng được ghi vào tư tín dụng.

(6)   Những nội dung về vận tải, giao nhận hàng hóa như điều kiện cơ sở giao hàng (FOB, CIF, CFR), nơi gửi và nơi giao hàng, cách vận chuyển và cách giao hàng v.v.. cũng được ghi vào thư tín dụng

(7)   Những chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình là một nội dung then chốt của thư tín dụng bởi vì bộ chứng từ quy định trong thư tín dụng là một bằng chứng của người xuất khẩu chứng minh rằng m ình đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng và làm đúng những điều quy định của thư tín dụng, do vậy ngân hàng mở L/C phải dựa vào đó để tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu, nếu bộ chứng từ phù hợp với những điều quy định trong thư tín dụng.

Ngân hàng mở L/C thường yêu cầu người xuất khẩu thỏa mãn những yêu cầu về các loại chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình, số lượng các chứng từ này nhiều hay ít phụ thuộc vào yêu cầu của người nhập khẩu, mà các yêu cầu đó thường được thỏa thuận trong hợp đồng và yêu cầu về việc ký phát từng loại chứng từ đó như thế nào.

(8)  Những điều khoản khác.

Nếu có những điều khoản đặc biệt nào khác cần ghi rõ trong thư tín dụng.

(9)  Sự cam kết trả tiền của ngân hàng mở L/C

Sự cam kết của ngân hàng là nội dung quan trọng của thư tín dụng và nó ràng buộc trách nhiệm của ngân hàng mở L/C.

Dưới đây trích một số mẫu L/C: (Đinh Xuân Trình. 1996.)

Mẫu L/C của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam:

“We hereby engage with the drawers, endorsers and bona fide holders of draft(s) drawn and preented in accordance with the terms of this Credit that the draft(s) shall be duly honored on presentation”

Chúng tôi cam kết với những người ký phát, ký hậu và những người chân thực cầm hối phiếu đã được ký phát và được xuất trình phù hợp với những điều kiện của tín dụng này rằng các hối phiếu đó sẽ được trả tiền khi xuất trình.

Mẫu L/C của Mitsui Bank Ltd như sau:

“We engage with the drawers, endorsers and bona fide holders of drafts drawn under and in compliance with the terms of this credit that the same shall be duly honored on due presentation and delivery of documents to the drawee”

Chúng tôi cam kết với những người ký phát, ký hậu và chân thực cầm hối phiếu đã được ký phát theo và phù h ợp với những điều kiện của tín dụng n ày rằng các hối phiếu đó sẽ được trả tiền khi xuất trình đúng hạn và giao các chứng từ cho người trả tiền.

Qua hai mẫu cam kết trên của ngân hàng mở L/C chúng ta nhận thấy đây là sự cam kết thực sự, là sự cam kết có điều kiện và là sự cam kết dự ph òng (bảo lưu) tức là ngân hàng chỉ cam kết tôn trọng các hối phiếu xuất trình đúng hạn và phù hợp với điều kiện của L/C, còn việc có trả tiền hay không còn phụ thuộc vào việc xem xét bộ chứng từ thanh toán có phù hợp với L/C hay không và không được mâu thuẫn với nhau.

(10)   Chữ ký của ngân hàng mở thư tín dụng

Chữ ký là nội dung cuối cùng cử thư tín dụng mà nếu thiếu nó thư tín dụng sẽ hoàn toàn không có giá tr ị. L/C thực chất l à một khế ước dân sự, do vậy người ký nó cũng phải là người có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực pháp lý để tham gia và thực hiện quan hệ dân luật.

Nếu mở L/C bằng thư, chữ ký trên ấn chỉ L/C phải đúng với chữ ký đã được thông báo cho nhau giữa hai ngân hàng mở L/C và ngân hàng thông báo L/C trong thỏa thuận đại lý giữa hai ngân hàng đó. Nếu mở L/C bằng điện, thay vì chữ ký nói trên bằng TEST.

Dưới đây là một L/C của Ngân hàng Mitsui mở cho Minexport Vietnam hưởng theo yêu cầu của người nhập khẩu Daiichi Trading Co. qua Vietcombank: (Đinh Xuân Trình. 1996.)

THE MITSUI BANK LIMITED Foreign Exchange Department

TOKYO                                                                                        Date 2nd April 2000

Irrevocable credit N0 46379/58/11009

(This Credit has been advised through Bank for Foreign Trade of Vietnam, Hanoi)

Dear Sirs,

We hereby open our Irrevocable Credit in your favour for account of Daiichi Trading Co, Ltd Japan for a sum or sums not exceeding total of Stg 100,000 (say Pound Sterling one hundred thousand) valid until May, 31st 2000.

Available by your drafts at sight drawn on ourselves in duplicate for 100% invoice value accompanied by the following documents:

Commercial invoice duly signed in 3 copies indicating import licence No 1370/MS and 4572/Mt.

Full set of clean on board ocean Bill of Lading made out to order of shipper and blank endorsed, marked “Freight collect” notify “Daiichi Trading Co. Ltd, Tokyo Japan”

Charter party Bills of Lading are acceptable State Bills of Lading are acceptable Insurrance to be covered by buyer Other documents: Certificate of analysis in 3 copies Certificate of weight in 3 copies Ship master’s receipt attesting that 2 extra copies of invoice have been forwarded to accountee by the carrying vessel.

Evidencing shipment from Campha or Hongay to Japan port of about 2.000 metric tons of Hongay anthracite coal in bulk (specification and unit price are as per attached sheet FOB trimmed Campha or Hongay.

Partial shipments are permitted

Trashipment is not permitted, shipment must be effected of later than April, 30 1998. All drafts drawn hereunder must be marked “drawn under the Mitsui Bank Ltd. Foreign Exchange Department Tokyo, irrevocable credit No 46379/58/11009 dated April 2nd 2000”.

We engage with the drawers, endorsers and bona fide holders of drafts drawn under and in compliance with the terms of credit that the same shall be duly honored on due presentation and delivery of documents to the drawee.

Yours very truly,

For the Mitsui Bank Ltd.

Foreign Exchange Department Pro. Manager (Signed)

NGÂN HÀNG HỮU HẠN MITSUI Vụ Ngoại hối

TOKYO                                                                             Ngày 2 tháng 4 năm 2000

Thư tín dụng không thể hủy bỏ số 46379/58/11009

(Thư tín dụng này đã thông báo qua Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội)

Các ngài kính mến,

Theo đây, chúng tôi mở một tín dụng không thể hủy bỏ cho quý ngài hưởng thuộc tài khoản của Công ty thương mại hữu hạn Daiichi Nhật Bản một số tiền không qúa tổng số là 100,000 bảng Anh (đọc một trăm ngh ìn bảng Anh) có giá trị đến ngày 31/5/2000, thanh toán bằng hối phiếu trả tiền ngay của quý ngài ký phát cho chúng tôi, lập thành hai bản bằng 100% trị giá hóa đơn kèm theo những chứng từ sau đây:

Hóa đơn thương mại đã ký làm 3 bản ghi rõ giấy phép nhập khẩu số 1370/MS và 4572/MT.

Một bộ vận đơn đường biển hoàn hảo, đã xếp hàng lên tàu, làm theo lệnh của người gửi hàng, ký hậu để trống, ghi chú “c ước phí trả sau” v à thông báo cho “Công ty thương m ại hữu hạn Daiichi, Tokyo Nhật Bản”

Vận đơn theo hợp đồng thuê tàu cũng nhận Vận đơn đến chậm cũng nhận Bảo hiểm do người mua chịu Các chứng từ khác:

Giấy chứng nhận kiểm nghiệm 3 bản Giấy chứng nhận trọng lượng 3 bản

Giấy chứng nhận của thuyền trưởng chứng nhận rằng hai bản hóa đơn thêm đã được gửi theo tàu cho người nhận hàng.

Chứng minh rằng khoảng 2.000 tấn than anthracite không bao b ì đã được bốc từ Cẩm Phả hoặc Hòn Gai (quy cách và đơn giá như đã ghi trong giấy tờ gửi kèm theo).

Được phép giao từìng phần, không được phép chuyển tải, phải giao hàng chậm nhất là ngày 30/4/2000.

Mọi hối phiếu ký phát ở đây phải ghi chữ “ký phát cho ngân h àng hữu hạn Mitsui, Vụ Ngoại hối, Tokyo, theo thư tín dụng không thể hủy bỏ số 46379/58/11009 mở ngày 2/4/2000’.

Chúng tôi cam kết với người ký phát, ký hậu v à chân thực cầm hối phiếu đã được ký phát và phù hợp với điều kiện của thư tín dụng này rằng các hối phiếu đó sẽ được tôn trọng khi xuất trình đúng hạn và chuyển giao các chứng từ cho người trả tiền.

Chào tin tưởng.

Ngân hàng hữu hạn Mitsui

Vụ Ngoại hối

Phó Giám đốc (Đã ký)

Thư tín dụng không thể hủy bỏ (Irrevocable Letter of Credit): Là loại thư tín dụng sau khi đã mở ra thì ngân hàng mở L/C không được sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ trong thời hạn hiệu lực của nó, trừ khi có sự thỏa thuận khác của các b ên tham gia thư tín dụng. Đây là loại thư tín dụng được áp dụng rộng rãi nhất trong thanh toán quốc tế và là loại L/C cơ bản nhất.

Thư tín dụng không thể hủy bỏ có xác nhận (Confirmed Irrevocable L/C): Là loại thư tín dụng không thể hủy bỏ đ ược một ngân hàng khác xác nhận đảm bảo trả tiền theo yêu cầu của ngân hàng mở L/C. Do có hai ngân hàng đứng ra cam kết trả tiền cho người xuất khẩu nên đây là loại đảm bảo nhất cho người xuất khẩu.

Thư tín dụng không thể hủy bỏ, miễn truy đòi (Irrevocable without recourse L/C): Là loại L/C mà sau khi người xuất khẩu đã được trả tiền thì ngân hàng mở L/C không còn quyền đòi lại tiền người xuất khẩu trong bất cứ trường hợp nào. Khi sử dụng loại này, người xuất khẩu phải ghi câu “miễn truy đòi người ký phát” lên hối phiếu và trong L/C. Loại này cũng được sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế.

Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C): Là thư tín dụng không thể hủy bỏ trong đó quy định quyền của người hưởng lợi thứ nhất có thể yêu cầu ngân hàng mở L/C chuyển nhượng toàn bộ hay một phần số tiền của L/C cho một hay nhiều người khác. L/C chuyển nhượng chỉ được chuyển nhượng một lần. Chi phí chuyển nhượng thường do người hưởng lợi đầu tiên chịu.

Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C): Là loại L/C không thể hủy bỏ sau khi sử dụng xong hoặc đã hết thời hạn hiệu lực thì nó lại tự động có giá trị nh ư cũ và cứ như vậy nó tuần hoàn cho đến khi nào tổng giá trị hợp đồng được thực hiện.

Thư tín dụng tuần hoàn cần ghi rõ ngày hết hiệu lực cuối cùng và số lần tuần hoàn và giá trị tối thiểu của mỗi lần đó. Nếu việc tuần hoàn căn cứ vào thời hạn hiệu lực trong mỗi lần tuần hoàn thì phải ghi rõ có cho phép s ố được của L/C trước cộng dồn vào những L/C kế tiếp hay không, nếu cho phép thì gọi nó là tuần hoàn tích lũy (Cumulative Revolving L/C).

Thư tín dụng giáp lưng (Back to back L/C): Sau khi nhận được L/C do người nhập khẩu mở cho mình hưởng, người xuất khẩu dùng L/C này để thế chấp mở một L/C khác cho người hưởng lợi khác với nội dung gần giống như L/C ban đầu, L/C mở sau gọi là L/C giáp lưng.

Nói chung, L/C gốc và L/C giáp lưng giống nhau, nhưng xét riêng chúng có những điểm cần phải phân biệt về số chứng từ của L/C giáp l ưng nhiều hơn L/C gốc, kim ngạch L/C giáp lưng phải nhỏ hơn L/C gốc, khoản chênh lệch này do người trung gian hưởng dùng để trả chi phí mở L/C giáp lưng và phần hoa hồng của họ, thời hạn giao hàng của L/C giáp lưng phải sớm hơn L/C gốc.

Nghiệp vụ thư tín dụng giáp lưng rất phức tạp, nó đ òi hỏi phải có sự kết hợp khéo léo và chính xác các điều kiện của L/C gốc và L/C giáp lưng, nhất là các vấn đề có liên quan đến vận đơn và các chứng từ hàng hóa khác.

Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C): Là loại thư tín dụng chỉ bắt đầu có hiệu lực khi thư tín dụng kia đối ứng với nó đã mở ra. Loại này thường được dùng trong phương thức mua bán hàng đổi hàng.

Thư tín dụng dự phòng (Stand – by L/C): Để đảm bảo quyền lợi cho người nhập khẩu, ngân hàng của người xuất khẩu sẽ phát hành một L/C trong đó cam kết với người nhập khẩu sẽ thanh toán lại cho họ trong trường hợp người xuất khẩu không hoàn thành nghĩa vụ giao hàng theo L/C đã đề ra. L/C như thế gọi là L/C dự phòng. Nó được áp dụng phổ biến ở Mỹ trong quan hệ một bên là người đặt hàng và một bên là người sản xuất (người bán). Các khoản tín dụng mà người đặt hàng cấp cho người sản xuất như tiền đặt cọc, tiền ứng trước, chi phí mở L/C chiếm tỷ trọng 10 – 15% trị giá của đơn đặt hàng. Việc bảo đảm hoàn lại số tiền đó cho người đặt hàng khi người sản xuất không ho àn thành nghĩa vụ giao hàng có ý nghĩa quan trọng.

Thư tín dụng thanh toán dần dần (Deferred payment L/C): Là loại thư tín dụng không thể hủy bỏ, trong đó ngân hàng mở L/C hay ngân hàng xác nhận L/C cam kết với người hưởng lợi sẽ thanh toán dần dần toàn bộ số tiền của L/C trong những thời hạn quy định rõ trong L/C đo. Đây là một loại L/C trả chậm từng phần.


Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trên:
  • tín dụng chứng từ
  • phuong thuc tin dung chung tu
  • phương thức tín dụng chứng từ là gì
  • ,