Quá trình cải cách kinh tế của Trung Quốc

1.1  Giai đoạn 1978-1983: Mở cửa và kích hoạt

♦ Trước 1978, chế độ công xã nhân dân thực hiện trong 20 năm ròng kèm với những mặt trái của cơ chế tập thể hóa ruộng đất, kết quả là hiệu suất nông nghiệp thấp, nông dân đi vào bước đường cùng. Trong tình cảnh không biết đi về đâu, nông dân  đòi phải được khoán ruộng đất.Và chế độ khoán ruộng đất ấy rất hiệu nghiệm, nhanh chóng lan rộng trên toàn quốc, mang lại Trung Quốc những thay đổi mà cả thế giới đều phải thừa nhận.

♦ Vào năm 1978, dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc  chỉ có 167.000.000 USD, rất thấp. 30 năm sau, đến năm 2008, con số này đã vượt quá 1.700 tỷ USD, gấp 10.000 lần.Trong thời kì đầu cải cách , Đặng Tiểu Bình dựa vào “ nguồn vốn lớn tập trung đầu tư ”, dùng tiền CNTB để xây dựng Trung Quốc. Kêu gọi đầu tư nước ngoài là nhiệm vụ hàng đầu của chính phủ. Nhưng mọi việc không thuận lợi, những nhà đầu tư nhanh chóng phát hiện ra rằng, một nước Trung Quốc với môi trường chính sách dao động không rõ ràng, thiết bị và cơ sở hạ tầng vô cùng lạc hậu, vì thế không phải là một nước lí tưởng cho việc đầu tư. Ngay khi nhận ra kế hoạch này không thể thực hiện được, Đặng Tiểu Bình lập tức thay đổi chiến lược, ông bắt đầu tập trung vào cải tạo mấy chục ngàn xí nghiệp nhà nước, tập trung xây dựng đặc khu ở những nơi có vị trí heo hút, thực lực kinh tế thấp kém tại miền Nam, cụ thể là Thâm Quyến, để từ đó thu hút vốn đầu tư và kỹ thuật của nước ngoài.

♦ Năm 1979 là năm nền kinh tế của Trung Quốc bắt đầu khôi phục. Do bởi “cha chung không ai khóc”, hiệu suất thấp luôn là vấn đề khó khăn bủa vây lấy những xí nghiệp quốc doanh Trung Quốc. Để kích hoạt những xí nghiệp quốc doanh, “phương thuốc” đầu tiên mà mọi người nghĩ tới là mở rộng quyền dân chủ. Nhà nước công bố 5 văn kiện:”mở rộng quyền tự chủ quản lí kinh doanh của các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh”; “thực hiện giữ tỉ lệ lợi nhuận”; “thu thuế trên tài sản cố định”;”Nâng cao phương pháp sử dụng khấu hao và thay đổi chi phí khấu hao”;”thực hiện mở rộng tín dụng”. Một cuộc chấn hưng các xí nghiệp quốc doanh đang từ từ bắt đầu.

1.2  Giai đoạn 1984-1992: Rối loạn và náo động

♦ Để bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp nhà nước, một chính sách mang tên “hệ thống hai giá” đã ra đời.”Hệ thống hai giá có nghĩa là, một loại nguyên liệu sản xuất nhưng có hai loại giá, cùng một loại giá do nhà nước kiểm soát gọi là “giá trong định mức” của thị trường hóa; dành cho các công nghiệp cổ phần và tư nhân là “giá ngoài định mức”, giá ngoài định mức cao hơn nhiều so với giá trong định mức. Đánh giá “hệ thống hai giá”, một mặt giữ lại được giá cả của thời kinh tế kế hoạch , đồng thời lại mở ra một bộ phận thị trường không thuộc sở hữu nhà nước có cơ hội phát triển nhanh chóng, tuy nhiên mặt trái “hệ thống hai giá” sinh ra hiện tượng tham ô đồi bại.

♦ Để vật giá nhanh chóng đi vào quỹ đạo điều tiết của thị trường , 3-1988 Trung ương quyết định nới lỏng quản chế, bãi bỏ “hệ thống hai giá” và tiến hành chính sách để “vật giá đột phá” làm cho giá các sản phẩm gia tăng nhanh chóng. Thế nhưng “vật giá đột phá” lại nhanh chóng bị mất tầm kiểm soát, nạn lạm phát cùng đà tiến tới. Năm 1988 là năm vật giá tăng cao nhất, nạn lạm phát diễn biến nhanh nhất kể từ năm 1950. Cùng lúc ấy, nạn lạm phát còn dẫn đến tình trạng thiếu hụt nguyên vật liệu sản xuất. Trung Quốc đang rơi vào mất kiểm soát nghiêm trọng. ”Vật giá đột phá’ sau này được xem là đợt mất kiểm soát về kinh tế lớn nhất của Trung Quốc kể từ khi cải cách vào năm 1978.

♦ Năm 1989, tình hình nghiêm trọng, bước thứ nhất trong việc chỉnh đốn là bắt đầu kiểm tra tình hình trốn thuế của doanh nghiệp tư.”tình trạng trốn thuế của các hộ cá thể chiếm 80% tỉ lệ doanh nghiệp cả nước”. Bước thứ hai của công cuộc sửa đổi chỉnh đốn là thanh lý chỉnh đốn những xí nghiệp mới hoạt động nằm bên ngoài hệ thống xí nghiệp nhà nước, họ bị cho là đầu mối của tai họa đã gây nên tình trạng lạm phát, thị trường mất tầm kiểm soát và tranh giành nguyên vật liệu của các xí nghiệp nhà nước.

Năm 1989, tốc độ tăng trưởng kinh tế Trung Quốc sụt giảm tới mức thấp nhất kể từ năm 1978, các ngân hàng thoi thóp, tỉ lệ tiêu dung giảm, các công xưởng không đủ năng lực thi công, các xí nghiêp ở thôn trấn phần lớn phải đóng cửa, tỉ lệ thất nghiệp tăng vọt, lưu thông tiền tệ gặp vấn đề lớn. Trong tình cảnh ấy, năm 1989 Đặng Tiểu Bình đưa ra “ Vấn đề Trung Quốc, muốn áp đảo tất cả thì cần phải ổn định”.

♦ Tháng 10-1992, đại hội đại biểu lần thứ 14 Đảng Cộng sản Trung Quốc được tổ chức và xác định rõ mục tiêu “xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc’. Cơn sốt bắt đầu bùng nổ từ thị trường cổ phiếu và sự ra đời của Ủy Ban Chứng khoán Trung Quốc. Năm 1992, Trung Quốc đẩy nhanh cải cách và mở cửa, các công ty nước ngoài lại lần nữa tiến quân đến với Trung Quốc.

Nhìn lại lịch trình cải cách mở cửa từ 1989-1992, rõ ràng Trung Quốc đã đi qua một giai đoạn vô cùng nhạy cảm và đầy ấp những “luân chuyển tuần hoàn” nguy hiểm. Và thế là, trong sự tấn công của kinh tế thị trường, kinh tế Trung Quốc cũng tìm được cuộc sống mới trong bao lần rạn nứt rồi thay đổi.

1.3  Giai đoạn 1993-1997: cấp tiến và ước mơ

♦ Các hiện tượng cho thấy, Trung Quốc năm 1993 đã không còn là một đất nước của nền kinh tế kế hoạch mang ý nghĩa truyền thống nữa. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế tư nhân,”đầu cơ trục lợi” trở thành một khái niệm lịch sử , kinh tế thôn trấn mọc lên khắp nơi, thị trường tiền vốn là một bộ phận cấu thành tất yếu của kinh tế thị trường hiện đại cũng đã vận hành những bước đầu tiên. Do thất bại của “vật giá đột phá”, cộng thêm những điều chỉnh vĩ mô sau đó đã đẩy việc sản xuất rơi vào chuỗi tháng ngày ảm đạm. Sáu tháng đầu năm 1993, tổng chỉ số giá cả nguyên vật liệu sản xuất trên cả nước đã tăng lên 44,7%, ngân hàng tư nhân bất hợp pháp hoạt động sôi nổi, tỉ lệ cho vay nặng lãi của người dân ngày càng cao, lãi suất chính thức trở thành con số ảo.

♦ Chu Dung Cơ, người có tài chỉnh đốn, sửa đổi trong lĩnh vực Kinh tế, đảm nhận vai trò phó thủ tướng chủ quản về kinh tế. Ngày 23/7/1993 ông đưa ra “chế độ chia thuế”. Chế độ chia thuế được thực hiện đã khiến cho trật tự ngân sách quốc gia có những cải thiện lớn, tài chính nhà nước tìm lại được sức sống.

♦ Trung Quốc thực hiện chế độ tỷ giá hối đoái chính thức và tỷ giá trên thị trường song song với nhau, đã làm nảy sinh một chợ đen hùng mạnh. Đồng nhân dân tệ mất giá quá nhiều khiến cho các mặt hàng Trung Quốc xuất ra thị trường thế giới bỗng trở nên rẻ rề, nhưng có sức thu hút rất lớn đối với nhà đầu tư nước ngoài.

Các nhà kinh tế học đưa ra quan điểm “không thể ôm gọn tất cả các xí nghiệp. Nhà nước chỉ cần nắm chắc một số xí nghiệp đầu não nhất, còn những xí nghiệp nhỏ vừa không đủ sức cạnh tranh, không liên quan chăt chẽ đến quốc kế dân sinh thì sẽ “bỏ qua”.Tư tưởng cải cách này khác hoàn toàn so với trước đây, mang đến chấn động lớn, những thành quả của đợt cải cách này cho đến năm 2003 mới bắt đầu thể hiện ra một cách rõ ràng nhất.

♦ Năm 1994, là năm Đại chiến giá cả và sự hưng khởi của hàng nội địa Trung Quốc.Các công ty xí nghiệp Trung Quốc phát triển mạnh, các công ty nước ngoài cũng kéo nhau tới.. Nếu so sánh giữa tính năng và giá cả, người tiêu dùng Trung Quốc chú ý nhiều hơn đến giá cả sản phẩm. Sản phẩm nội địa Trung Quốc có giá bằng một nửa so với công ty nước ngoài. Đó là lí do các công ty nước ngoài thua trong trận chiến về giá cả.

♦ Năm 1997, một trận khủng hoảng kinh tế Châu Á, bắt đầu từ Thái Lan, sau đó lan sang Malaysia, Philippines, Indonesia… Trung Quốc tuy không bị ảnh hưởng trực tiếp, nhưng những ngày tháng ấy với Trung Quốc thật không dễ dàng. Thị trường cổ phiếu trầm lắng, thị trường tiêu dùng vắng vẻ, hàng loạt công ty đã từng sang chói rơi vào tình cảnh khó khăn,…Một chiến lược mới có tên “Quốc thoái dân tiến”, tiền vốn của nhà nước phần lớn rút lui khỏi các lĩnh vực cạnh tranh, đồng thời nắm độc quyền những ngành nghề như gang, thép, hàng không, ngân hàng,…

1.4  Giai đoạn 1998-2001: Cơn chấn động và những cuộc chơi

♦ Trước tình hình còn khó khăn của Trung Quốc, Trung Quốc xác định ba nhiệm vụ cấp bách: Một là không để đồng nhân dân tệ bị mất giá, hai là kích hoạt nền kinh tế, kích cầu trong nước, ba là trong thời gian 3 năm sẽ giúp các công ty nhà nước thoát khỏi khó khăn. Đầu 1998, Soros-nhà đầu tư nước ngoài quyết định sẽ đánh vào đồng Đôla Hồng Kong, các nhà đầu tư điên cuồng bán hơn 20 tỷ đô la Hồng Kong, cục quản lý tiền tệ Hồng Kong buộc phải cắn răng thu mua toàn bộ. Chỉ số Hang Seng tụt xuống.Vào ngày quyết chiến, chính quyền Hồng Kong đã giành thắng lợi, chỉ số thị trường trở lại ổn định, Soros cụp đui rút lui. Do còn ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ, tỉ lệ xuất khẩu bị giảm sút mạnh, lượng hàng tồn kho trong nước tăng lên vùn vụt, nhu cầu tiêu dùng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Với tình thế ấy, nếu muốn thay đổi thì con đường duy nhất là nhìn vào quốc nội, kích cầu trong nước.Khi ấy số tiền tiết kiệm trọng dân đã lên đến 500 tỷ nhân dân tệ, chỉ cần giải phóng khả năng tiêu dung này, thì nền kinh tế sẽ được phục hồi, Chu Dung Cơ giữ chức vụ Thủ tướng đưa ra một quyết sách trọng đại – nung nóng thị trường bất động sản

Thang 7 năm 1998, Quốc vụ viện đưa ra một quyết định trọng đại, các cơ quan thuộc Đảng, chính quyền nhất loạt chấm dứt việc phân nhà cho nhân viên để chuyển sang hình thức hóa giá nhà ở. Ngân hàng Trung Quốc thì thực hiện “ biện pháp quản lý cho cá nhân vay vốn mua nhà”, đẩy nhanh việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống cung cấp nhà ở  phù hợp với điều kiện kinh tế.

Vì lĩnh vực nhà ở và bất động sản liên quan chặt chẽ đến nhiều lĩnh vực khác như gang thép, xi măng…vì thế chính sách ấy làm cho nền kinh tế được phục hồi. Với nhiệm vụ thứ 3: “ với 3 năm sẽ giúp các công ty nhà nước thoát khỏi khó khăn” rõ ràng là một nhiệm vụ cam go nhất. Vì 81% các công ty báo cáo tình hình tài chính và doanh số thiếu chính xác, hầu hết các công ty nhà nước buộc phải thông qua việc  làm giả báo cáo tài chính để che đậy hiện thực khó khăn. Năm 1999, Ngân hàng Trung Ương tuyên bố hạ lãi suất, “luật chúng khoán” bắt đầu được thực hiện.

♦Cuối năm 1999, ngày 15 tháng 11, Trung Quốc chính thức sở hữu tấm vé để bước vào thế giới toàn cầu hóa WTO, kết quả là sự phất lên của những doanh nghiệp nhà nước qui mô lớn đã lập nên kỷ lục lợi nhuận cao nhất. Những tập đoàn qui mô lớn của Trung Quốc đã xuất hiện trên thị trường nước ngoài như New York, Hồng Kông…, tập thể doanh nhân của các doanh nghiệp nhà nước bắt đầu lộ diện và thể hiện rõ bản lĩnh của mình, các công ty nước ngoài có mặt tại Trung Quốc, làm dấy lên đợt sóng tư nhân hóa. Cùng lúc ấy, sự lựa chọn ngành nghề của các công ty nước ngoài xuất hiện những chuyển biến tinh tế, bắt đầu đi từ lĩnh vực mang tính cạnh tranh, nhưng những công ty nước ngoài sau này phát hiện ra rằng, cạnh tranh v ới các công ty mới của Trung Quốc trong lĩnh vực hàng tiêu dùng thì khó thành công. Sau đó chuyển sang đầu tư vào các cơ sở hạ tầng mang tính kỹ thuật cao hơn, kết quả khá thành công.

Các hạng mục đầu tư tài chính của những công ty nước ngoài tăng lên khá nhanh chóng, nguồn tài chính của các công ty trong nước đang lớn mạnh trở lại và đang phấn đấu giành lấy không gian sinh tồn cho bản thân.

1.5  Các chính sách cải cách giai đoạn 2001-2008:

Từ sau chiến tranh lạnh kết thúc năm 1991, tác động của nó đến Trung Quốc hết sức to lớn, một mặt nó điều chỉnh những căng thẳng quân sự trước đó giữa Trung – Nga theo chiều hướng tích cực hơn, một mặt Trung Quốc phải đối đầu trước sự bao vây kiềm chế  của một đối thủ vô cùng lớn mạnh là Mỹ. Cùng với sự phát triển về kinh tế thì việc tăng cường quân sự, nhất là các vũ khí chiến lược lại vô cùng trở nên cấp bách. Bước sang thế kỉ XXI, “sự kiện ngày 11 tháng 9” gây chấn động toàn thế giới đặt ra cho tất cả các quốc gia đứng trước một nguy cơ mới – nguy cơ về một chiến dịch khủng bố. Xuất khẩu của Trung Quốc và Mỹ, Nhật và EU suy giảm đáng kể (vào khoảng 5%, thấp hơn rất nhiều so với năm 2000 là 27,8%). Cuộc khủng hoảng kinh tế – tài chính bùng nổ ở Đông Nam Á 1997 tác động mạnh mẽ vào kinh tế Hồng Kông, một đặc khu hành chính của Trung Quốc. Chính quyền Trung Quốc đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm khắc phục khủng hoảng, trong đó có việc điều chỉnh ngoại thương mà không phá giá đồng nhân dân tệ. Những năm đầu của thập niên 20 nền kinh tế Trung Quốc đứng trước nhiều khó khăn về một bài toán kinh tế trong bối cảnh toàn cầu rối ren và bất ổn.

Đại hội lần thứ XVI năm 2002 khẳng định tư tưởng quan trọng “ba đại diện” về xây dựng Đảng và đề ra nhiệm vụ chiến lược “xây dựng toàn diện xã hội khá giả” trong 20 năm đầu thế kỉ XXI.

♦    Quan điểm về khẳng định chế độ sở hữu ở Trung Quốc:

Đại hội XVI tiếp tục nhấn mạnh “tiếp tục điều chỉnh bố cục và cơ cấu kinh tế quốc hữu, cải cách thể chế quản lý vốn quốc hữu là nhiệm vụ trọng đại để đưa cải cách thể chế kinh tế vào chiều sâu, xem “kinh tế tập thể là bộ phận cấu thành quan trọng của kinh tế công hữu, có vai trò quan trọng trong việc thực hiện cùng giàu có”. Bên cạnh đó, tại đại hội Chính phủ Trung Quốc còn nhấn mạnh việc khuyến khích kinh tế phi công hữu phát triển “kinh tế phi công hữu với các hình thức như cá thể, tư doanh…là bộ phận cấu thành quan trọng của kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, có vai trò quan trọng trong việc phát huy đầy đủ tính tích cực của các lực lượng xã hội, tăng nhanh phát triển sức sản xuất”. (trích nguồn: “Văn kiện Đại hội XVI Đảng Cộng Sản Trung Quốc”, Nxb. Nhân dân, Bắc Kinh, 2002).

Nhà nước đảm bảo quyền lợi tài sản, thực hiện thu thuế công bằng, khuyến khích tư nhân mở rộng đầu tư nâng cấp doanh nghiệp để đủ sức vóc cạnh tranh với các tập đoàn tài chính quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa, nhất là từ sau khi gia nhập WTO năm 2001.

♦    Chủ trương đa dạng hóa sở hữu, tiến hành xây dựng chế độ doanh nghiệp hiện đại

Giai đoạn 2002 đến nay, Trung Quốc vẫn tiếp tục thực hiện nhiều biện pháp nhằm thay đổi cơ chế kinh doanh theo hướng hiện đại hơn, hiệu quả hơn trên nguyên tắc “ba cải một tăng cường” (cải tiến công tác doanh nghiệp, cải tạo kỹ thuật, cải thiện hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và tăng cường quản lý doanh nghiệp). Thông qua việc cải tạo đã hình thành “5 cơ chế”. Một là, hình thành cơ chế đào thải doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong thị trường theo yêu cầu ‘khuyến khích sáp nhập, yêu cầu phá sản, nắm lớn buông nhỏ”. Hai là hình thành cơ chế duy trì và gia tăng nguồn vốn quốc hữu đảm bảo lợi ích căn bản của Nhà nước  với tư cách là người sở hữu. Ba là hình thành cơ chế việc làm có thể phát huy tác dụng của cơ chế thị trường trong vấn đề phân bố lao động xã hội. Bốn là hình thành cơ chế đảm bảo an sinh xã hội như cấc vấn đề về trợ cấp lao động, bảo hiểm xã hội…năm là hình thành cơ chế cạnh tranh trong việc tuyển chọn người kinh doanh, tạo môi trường cho người nhân tài phát triển. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu gia nhập WTO, vẫn còn nhiều doanh nghiệp thua lỗ gây tổn thất lớn đến ngân sách nhà nước. Tháng 10 năm 2001, lần đầu tiên Trung Quốc cho phép các đối tác kinh doanh được tham gia vào việc xử lý những tài sản không mang lại hiệu quả sử dụng. Kể từ khi gia nhập WTO, một lực lượng tài chính thứ ba – tư nhân cũng dần được hình thành và phát  triển khá nhanh chóng. Những năm này Trung Quốc được xem là “công xưởng của thế giới” khi luôn đi đầu trong các loại sản phẩm như tủ lạnh, máy giặt, tivi màu, máy điều hòa…Trải qua nhiều năm phấn đấu Trung Quốc đã thực sự trở thành “ông vua” của các sản phẩm công nghệ với mẫu mã đẹp và giá rẻ, phát huy được lợi thế về 1,3 tỷ dân của mình.

♦    Thực hiện cải cách cơ cấu kinh tế:

Nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế thị trường, kể từ những năm đầu của giai đoạn cải cách Trung Quốc đã rất coi trọng việc điều chỉnh cơ cấu ngành kinh tế, thực hiện sự chuyển dịch của ba khu vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Về nông nghiệp, chú trọng yếu tố kỹ thuật vào các sản phẩm nông nghiệp, cải thiện cơ sở hạ tầng ở nông thôn để phát huy tối đa sức sản xuất ở khu vực nông thôn, đảm bảo “hậu phương” lương thực và góp phần nâng cao sức canh tranh trên thị trường thế giới. Trong quá trình hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, chú trọng đến bảo vệ rừng, bảo vệ đất và tài nguyên, chú trọng kết hợp giữa kĩ thuật sinh thái và các loại kĩ thuật hiện đại, đồng thời chú trọng ngăn chặn ô nhiễm công nghiệp, ô nhiễm trong thành phố ảnh hưởng đến nông nghiệp và nông thôn. Về công nghiệp, từ sau gia nhập WTO Chính phủ Trung Quốc chủ trương phải tăng nhanh cải tổ, cải tạo và nâng cấp cơ cấu ngành công nghiệp. Đại hội XVI của Đảng Cộng sản Trung Quốc thực hiện lấy phát triển làm chủ đề, lấy thị trường làm phương hướng, lấy cải cách mở cửa và tiến bộ khoa học kỹ thuật làm động lực, lấy tin tức hóa làm trọng điểm để thúc đẩy công nghiệp hóa. Thực hiện đào thải các ngành công nghiệp lạc hậu, loại bỏ những ngành ô nhiễm môi trường, giữ vững và nâng cao các ngành tập trung sức lao động hiện có lợi thế so sánh và các ngành công nghiệp mũi nhọn có hàm lượng kĩ thuật cao. Trong thời gian kế hoạch 5 năm lần thứ 10 (từ năm 2000 đến năm 2005 ) Trung Quốc đề ra phải chú trọng xây dựng các công trình kĩ thuật cao như mạng lưới thông tin, đương điện, hệ thống kĩ thuật số, đường sắt cao tốc, máy bay kiểu mới, công nghệ sinh học, công trình chế lọc dầu…Nhanh chóng phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm như ngành phần mềm máy tính, thương mại điện tử, những sản phẩm về an ninh thông tin, sản phẩm điện tử kỹ thuật số, linh kiện điện tử, xe ô tô dùng nhiên liệu sạch…Sản lượng ngành công nghiệp chủ yếu đứng hàng đầu thế giới. Trung Quốc đã giải quyết được cơ bản vấn đề cung không đủ cầu và xuất khẩu thu ngoại tệ, tuy nhiên vẫn còn tồn đọng một cơ cấu hang hóa bất hợp lý, khoảng cách ứng dụng công nghệ kĩ thuât với thế giới còn nhiều điểm bất cập. Đại đa số doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp nhà nước nhân viên quá nhiều, đặc biệt là thiếu những nhân viên kĩ thuật cao và những người quản lý có trình độ cao. Về lĩnh vực dịch vụ, từng bước thực hiện theo “Hiệp định chung về mậu dịch dịch vụ” của tổ chức WTO, thực hiện tự do hóa và chính sách mở cửa có chọn lọc phù hợp với sự ổn định xã hội và an ninh quốc phòng. Đặc biệt những ngành lấy khoa học kĩ thuật cao làm hạt nhân thì lại chủ trương khuyến khích mở cửa, cho phép các nhân viên kỹ thuật chuyên nghiệp nước ngoài vào để thu hút kỹ thuật tiên tiến, thu hút vốn, thúc đẩy phát triển những ngành này.

Ngoài ra, để từng bước dịch chuyển trong cơ cấu kinh tế, Trung Quốc chủ trương nhấn mạnh “tiếp tục thực hiện chiến lược khai thác và phát triển miền Tây, thúc đẩy sự phát triển hài hòa giữa các vùng…khai thác và phát triển các vùng căn cứ cách mạng cũ, vùng dân tộc thiểu số, vùng biên giới và vùng nghèo khó” (trích nguồn “Điều chỉnh một số chính sách kinh tế ở Trung Quốc giai đoạn 1992-2010” – TS Nguyễn Kim Bảo)

♦   Thực hiện chính sách về tiền tệ:

Từ sau cải cách, ổn định tiền tệ trở thành mục tiêu hàng đầu, chính sách tiền tệ Trung Quốc đã chuyển từ mục tiêu kép sang mục tiêu đơn nhất. Sau khi gia nhập WTO cho đến nay, một lượng vón lớn từ nước ngoài đổ vào thị trường tiền tệ Trung Quốc từng bước phải hòa nhập với thị trường tiền tệ thế giới khó tránh khỏi những ảnh hưởng mạnh mẽ từ những biến động của các yếu tố ngoại sinh. Nhiều công cụ tiền tệ đã được áp dụng như thực hiện chính sách đồng nhân dân tệ yếu tác động tích cực đến xuất khẩu, dự trữ ngoại hối được tảng cường và thu hút lượng lớn vốn đầu tư nước ngoài. Từng bước thắt chặt tiền tệ, nâng cao lãi suất tiền gửi đồng nhân dân tệ đồng thời hạ thấp lãi suất đồng đôla mỹ, khống chế lượng cung tiền và hạ thấp tối đa tỉ lệ dữ trữ bắt buộc đối với các ngân hang thương mại. Thực hiện cơ chế tỷ giá thả nổi, tính lưu động của nguồn vốn được tăng cường khiến cho cơ chế hình thành lãi suất ngày một phức tạp, đòi hỏi những phán đoán chính xác và thao tác phân tích kỹ càng, chuyên nghiệp của Ngân hang Trung ương.

♦    Chính sách ngoại thương và thu hút vốn đầu tư nước ngoài:

Thực hiện bảo hộ thuế quan đối với các ngành dễ bị tổn thương hoặc có tác động xấu đến đời sống của người nông dân. Điều tiết chính sách nhập khẩu cả về số lượng và giá cả, từng bước xóa bỏ những chênh lệch về giá cả và chất lượng giữa hang hóa nội địa và quốc tế. Đối với những ngành thiếu cạnh tranh thì sẽ bị đào thải theo quy luật kinh tế thị trường. Thực hiện thu thuế xuất khẩu để mở rộng quỹ phát triển xuất khẩu và quỹ rủi ro xuất khẩu. Chú trọng chính sách “nắm lớn buông nhỏ” đối với các doanh nghiệp quốc hữu, giữ vững thị trường ngoại hối nhất là duy trì sự ổn định của tỷ giá đồng nhân dân tệ nhằm hỗ trợ tốt cho ngoại thương.

Về việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, Trung Quốc tiếp tục lựa chọn chính sách “lấy thị trường đổi lấy kĩ thuật” cho phép TNCs ( Trans National Corporations – các công ty xuyên quốc gia) chiếm lĩnh một phần thị trường trong nước, tăng cường vốn đầu tư, sử dụng được những tiến bộ khoa học kĩ thuật nâng cao khả năng sản xuất và khai  thác sản phẩm thúc đẩy sự phát triển của một loạt ngành nghề và các doanh nghiệp liên quan.

♦    Chính sách về phát triển nguồn nhân lực:

Tiếp tục duy trì “chính sách một con”, giảm đáng kể tỷ lệ tăng dân số và sức ép việc làm, kinh tế, lương thực và môi trường. Định hướng đào tạo nguồn nhân lực nhất là đội ngũ cán bộ theo phương châm “4 hóa” là cách mạng hóa, trẻ hóa, tri thức hóa, chuyên môn hóa. Bồi dưỡng giáo dục nhân tài theo “3 hướng” là: hướng về hiện đại hóa, hướng ra thế giới và hướng tới tương lai. Nhờ vậy, các cán bộ được nâng cao năng lực sáng tạo trên các lĩnh vực kĩ thuật cao, kĩ thuật mới, do đó Trung Quốc dành được nhiều bản quyền trí thức nhiều hơn, có sức cạnh tranh quốc tế. (nguồn: Công nghiệp, Thương mại, số 11, Tháng 3- 2001)

 **** Những vấn đề đặt ra:

Với mức tăng trưởng cao trung bình tới 10% trong hơn thập kỉ qua, Trung Quốc đã trở thành nước có tăng trưởng GDP thực cao nhất thế giới. Trung quốc đã trở thành đề tài như một hiện tượng nổi lên từ năm 2001, cho đến nay đã vươn lên đứng hàng thứ 2 thế giới và dự báo năm 2030 sẽ vượt Mỹ trở thành nền kinh tế bậc nhất toàn cầu. Tuy nhiên, bất kì một sự đột phá nào cũng thể hiện được những nguy cơ nội tại và những ảnh hưởng không nhỏ đến cục diện chung của nền kinh tế.

Sau nhiều năm áp dụng chính sách đồng tiền yếu khiến áp lực lạm phát tăng cao kỷ lục. Dự trữ ngoại hối Trung Quốc tính tới cuối tháng 3 năm 2011 đạt 3.044,7 tỷ USD chiếm gần 1/3 trong tổng số 9000 tỷ USD dự trữ thế giới. Việc nắm quá nhiều ngoại hối nhất là đôla Mỹ trong xu thế đồng đôla yếu hiện nay đang là vấn đề lớn đặt ra cho chính phủ Trung Quốc về các khoản nợ khó đòi khổng lồ trong tương lai. Hơn nữa, đồng NDT luôn chịu sức ép rất lớn cả bên trong lẫn bên ngoài và sự cạnh tranh khốc liệt với  các tổ chức tiền tệ nước ngoài.

Từ sau khi gia nhập WTO, bước vào sân chơi quốc tế ngoài những thời cơ hiếm có thì Trung Quốc cũng phải đối mặt với những thách thức không nhỏ từ vấn đề được công nhận là nền kinh tế thị trường. Việc bãi bỏ thuế nhập khẩu đối với các nước là thành viên đã mang lại nhiều hiệu ứng tiêu cực từ vấn đề cạnh tranh. Nếu như hàng hóa Trung Quốc tân dụng được lợi thế về nhân công rẻ thì song song đó là vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm. Ngày nay, nhiều thực phẩm, hàng điện gia dụng, đồ chơi… có xuất xứ từ Trung Quốc hầu như bị “tẩy chay” trên thị trường thế giới. Gia nhập WTO mang khoa học len lỏi vào trong sản xuất giúp nâng cao năng suất nhưng bằng phát minh sáng chế lại trở thành vấn đề nan giải, nhiều sản phẩm công nghệ thiếu sự sáng tạo và thường xuyên “nhái” những sản phẩm của các nước khác, khiến “made in china” trở thành biểu tượng của hàng hóa kém chất lượng và độc hại.

Sự tăng trưởng kinh tế quá nóng đặt ra vấn đề về ô nhiễm môi trường. Cho đến nay 27% đất ở Trung Quốc bị sa mạc hóa, lượng khí thải nhà kính đứng thứ hai thế giới sau Mỹ, hiệu suất tận dụng năng lượng tương đối thấp khi lượng khoáng sản mà Trung Quốc phụ thuộc vào nước ngoài là 5% vào năm 1990 tăng lên 50% vào năm 2007 thể hiện một mô hình kinh tế phát triển không bền vững.

1.6  Giai đoạn 2009  đến nay:

1.6.1 Kinh tế Trung Quốc 2009:

Bước vào đẩu năm 2009, kinh tế Trung Quồc vẫn gặp rất nhiều khó khăn. Quý I-2009, mức tăng trưởng rất thấp, chỉ đạt 6,1%, thấp nhất kể từ năm 2001. Trong 4 tháng kể từ tháng 11-2008 đến 2-2009 được coi là giai đoạn khó khăn nhất của kinh tế Trung Quốc kể từ khi bước vào thế kỷ mới do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, biểu hiện trước hết là là tốc độ sản xuất công nghiệp suy giảm nhanh chóng, giảm khoảng 10 điểm % so với tốc độ tăng trưởng bình quân từ tháng 2 đến tháng 10-2008. Hai là, kim ngạch xuất nhập khẩu giảm sút rõ rệt, đây được coi là lĩnh vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của khủng hoảng. Ba quý đầu  năm, xuất khẩu giảm 21,3% so với cùng kỳ năm trước. Nếu như so sánh với những năm trước đây, tỷ lệ tăng trưởng hằng năm đạt trên dưới 20% thì mức độ suy giảm của xuất khẩu Trung Quốc tới khoảng 40 %. Ba là, một bộ phận doanh nghiệp gặp khó khăn, lợi nhuận giảm sút, vấn đề việc làm trở nên nan giải. 2 tháng đầu năm 2009, tốc độ suy giảm lợi nhuận công nghiệp lên đến 37,3%. Bốn là, giá cả xuất hiện tăng trưởng âm. Tháng 2-2009, CPI giảm 1,6%. PPI (chỉ số sản xuất ngành công nghiệp) cũng giảm 1,1%; 3.3% và 4.5% từ tháng 12-2008 đến 2-2009. Năm là, thu  nhập tài chính giảm tương đối lớn, 2 tháng đầu năm đã giảm đến 11.4%.

♦  Sự ứng phó của Trung Quốc

Một loạt những chính sách kích thích kinh tế đã được đưa ra như kế hoạch đầu tư lên tới 4000 tỷ NDT hay quy hoạch điều chỉnh, chấn hưng 10 ngành nghề kinh tế lớn là ô tô, gang thép, dệt, chế tạo trang thiết bị, công nghiệp đóng tàu, điện tử viễn thông, công nghiệp nhẹ, hoá dầu, kim loại màu và ngành kho vận. Việc chấn hưng 10 ngành nghề này hết sức quan trọng vì ngoại trừ ngành kho vận, 9 ngành nghề còn lại có tỷ trọng chiếm đến gần 80% giá trị toàn bộ ngành công nghiệp, chiếm khoảng 1/3 tổng GDP của Trung Quốc. Tình trạng vận hành của 10 ngành nghề lớn này có quan hệ trực tiếp đến việc nền kinh tế Trung Quốc có thể thực hiện phát triển bình ổn, tương đối nhanh hay không. Quy hoạch điều chỉnh, chấn hưng lần này với phạm vi rộng hơn, mức độ hay hiệu quả chính sách đều lớn hơn từ trước đến nay.

Ngoài ra, nhà nước Trung Quốc đã đưa ra hàng loạt các biện pháp, chính sách nhằm ổn định nhu cầu bên ngoài, thúc đẩy xuất khẩu. Quốc vụ viện Trung  Quốc đã đưa ra 6 giải pháp. Đó là: (1). Hoàn thiện chính sách bảo hiểm tín dụng xuất khẩu; (2). Hoàn thiện chính sách thuế xuất khẩu; (3). Ra sức trợ giúp các doanh nghiệp xuất khẩu giải quyết các vấn đề khó khăn về tiền tệ; (4). Giảm gánh nặng cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu; (5). Hoàn thiện chính sách mậu dịch gia công; (6). Khuyến khích các doanh nghiệp “đi ra bên ngoài, lôi kéo xuât khẩu”. Năm 2009 sẽ bố trí 84 tỷ USD cho bảo hiểm tín dụng xuất khẩu ngắn hạn, dành cho 10 tỷ USD ưu đãi tín dụng xuất khẩu. Chỉ tính từ ngày 1-8-2008 đến 1-6-2009 Trung Quốc đã có đến 7 lần điều chỉnh tăng tỷ lệ hoản thuế giá trị gia tăng đối với hàng xuất khẩu. Ngoài ra, Ngân hàng Trung ương cũng duy trì tỷ giá hối đoái giữa đồng NDT và đồng đôla Mỹ ổn định kể từ tháng 7-2008 để ngăn chặn đà tăng của đồng NDT so với đồng USD, sau khi đồng tiến này đã tăng 21% trong  ba tháng trước nhằm hỗ trợ xuất khẩu. Về tiêu dùng, Trung Quốc đã có nhiều chính sách mới nhằm mở rộng tiêu dùng trong nước, ứng phó với khủng hoảng.

Song song với nỗ lực kích cầu để giúp cho guồng máy sản xuất tiếp tục hoạt động  thì Trung Quốc tiếp tục chi ra hàng chục tỷ USD để chen chân vào các tập đoàn Âu Mỹ nhằm tiếp cận với những công nghệ tiên tiến, hay làm chủ các nguồn tài nguyên để phục vụ cho nhu cầu sản xuất của Trung Quốc, đồng thời vượt qua các biện pháp bảo hộ của Âu Mỹ.

♦  Kết quả

Với những quyết sách như vậy và bằng việc áp dụng linh hoạt các chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước Trung Quốc, như chính sách tài chính tích cực và chính sách tiền tệ nới lỏng thích hợp, khiến nền kinh tế trước những áp lực lớn phải đối mặt cũng dần từng bước đi vào ổn định, trong vận hành kinh tế bắt đầu xuât hiện những biến đổi tích cực. Bước sáng  tháng 3-2009, dấu hiệu suy giảm kinh tế đã tạm lắng bởi đầu tư và lượng cho vay của các ngân hàng đều gia tăng. Tháng 4, thị trường nhà đất, xe hơi và cổ phiếu sôi động trở lại. Tháng 5, ngành công nghiệp cũng có những dấu hiệu khởi sắc, tốc độ tăng trưởng công nghiệp đạt 8.9% – mừc cao nhất kể từ tháng 10-2008. Đầu tư tăng nhanh kéo theo sự phát triển cho các ngành xây dựng, các nhà máy thép, xi măng…

Bảy tháng liên tục từ tháng 5 đến 11-2009, sản xuất công nghiệp đã liên tục tăng  trưởng. Cả năm sản xuất công nghiệp tăng trưởng 11,0%, giảm 1.9 % điểm  so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận của doanh nghiệp sau nhiều tháng suy giảm đã xuất hiện tăng trưởng trở lại vào tháng 7-2009, lợi nhuận của các doanh nghiệp công nghiệp có quy mô tăng 2.9% điểm so với cùng kỳ năm 2008. Sản xuất nông nghiệp tiếp tục tăng trưởng bình ổn, cả năm tổng sản lượng lương thực tăng 0.4% so với cùng kỳ năm trước. Tính toán sơ bộ, GDP cả năm đạt 33.535,3 tỷ NDT, tính theo giá cả có thể so sánh, tăng trưởng 8.7%, giảm 0.9 điểm % so với năm trước. Sau khi trải qua 9 tháng liền tăng trưởng âm, tới tháng 11-2009 , CPI đã chuyển sang tăng trưởng dương, mặc dù rất nhỏ chỉ tăng 0.6% so với cùng kỳ. Nhìn chung cả năm CPI giảm 0.7% so với năm trước. PPI sau khi liên tục tăng trưởng âm suốt 11 tháng, đến tháng 12 đã đổi chiều chuyển sang tăng trưởng dương, đạt 1.7%, cả năm giảm 5.4%. Thu nhập tài chính toàn quốc từng bước phục hồi và tăng trưởng mạnh, đạt mức 2 con số. Tính từ tháng 1-11, thu nhập cả nước đạt 6.339.31tỷ NDT, tăng trưởng 9.2% so với cùng kỳ.

1.6.2 Kinh tế Trung Quốc năm 2010

♦  Thành tựu

Số liệu công bố của Cục Thống kê Nhà nước Trung Quốc ngày 20/1/2011 cho thấy, theo tính toán sơ bộ, cả năm GDP đạt 39.798,3 tỷ NDT, tính theo giá có thể so sánh, tăng trưởng 10,3% so với năm trước, tốc độ tăng trưởng nhanh hơn 1,1 điểm phần trăm so với năm 2009.

Sản xuất nông nghiệp tăng trưởng ổn định, sản lượng lương thực liên tục tăng trong 7 năm liền. Cả năm tổng sản lượng lương thực đạt tới 546,41 triệu tấn, tăng trưởng 2,9% so với năm trước.

Sản xuất công nghiệp tăng trưởng bình ổn, lợi nhuận của các doanh nghiệp nâng cao với mức độ lớn. Cả năm các doanh nghiệp công nghiệp có quy mô (doanh nghiệp có mức doanh thu bình quân trên 5 triệu NDT/ năm) có mức giá trị tăng 15,7% so với năm trước, mức độ tăng nhanh hơn 4,7 điểm % so với năm trước.11 tháng đầu năm, lợi nhuận của các doanh nghiệp công nghiệp có quy mô trên cả nước đạt 3.882,8 tỷ NDT, tăng trưởng 49,4%, tăng nhanh hơn 41,6 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Trong 39 ngành công nghiệp lớn thì có đến 38 ngành có lợi nhuận tăng so với cùng kỳ năm trước.

Đầu tư TSCĐ duy trì mức tăng trưởng tương đối nhanh, kết cấu đầu tư tiếp tục được cải thiện. Cả năm 2010, đầu tư TSCĐ toàn xã hội đạt 27.814 tỷ NDT, tăng trưởng 23,8%, mức độ tăng giảm 6,2 điểm phần trăm so với năm trước. Loại trừ yếu tố giá cả, tăng trưởng thực tế đạt 19,5%. Cả năm, đầu tư bất động sản đạt 4.826,7 tỷ NDT, tăng trưởng 33,2%.

Tiêu dùng tăng trưởng tương đối nhanh và bình ổn, những điểm nóng về tiêu dùng được tiêu thụ với mức độ lớn. Cả năm, kim ngạch bán lẻ hàng tiêu dùng toàn xã hội đạt 15.455,4 tỷ NDT, tăng trưởng 18,4% so với năm trước; loại trừ yếu tố giá cả, tăng trưởng thực tế đạt 14,8. Giá cả thị trường tăng so với cùng kỳ năm trước, giá cả thực phẩm có mức độ tăng tương đối lớn. Cả năm 2010, CPI tăng 3,3% so với năm trước. Trong đó, giá cả ở khu vực thành thị tăng 3,2%; giá cả ở khu vực nông thôn tăng cao hơn đạt 3,6%.

Chỉ số PPI năm 2010 tăng 5,5% so với năm trước; trong đó PPI tháng 12 tăng 5,9%, tăng 0,7% so với tháng trước. Kim ngạch xuất nhập khẩu tăng trưởng với tốc độ tương đối nhanh, xuất siêu có phần thu hẹp. Cả năm, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 2.972,8 tỷ USD, tăng trưởng 34,7% so với năm trước. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 1.577,9 tỷ USD, tăng trưởng 31,3%; nhập khẩu đạt 1.384,8 tỷ USD, tăng trưởng 38,7%. Thặng dư thương mại cả năm 2010 đạt 183,1 tỷ USD, giảm 6,4% so với năm trước.

Thu nhập của người dân thành thị và nông thôn tăng trưởng ổn định, thu nhập của người dân nông thôn tăng nhanh hơn thành thị. Cả năm, tổng thu nhập bình quân đầu người của người dân thành thị đạt 21.033 NDT, tăng 11,5% so với năm trước.

Mức tỷ giá 6,8275 Nhân dân tệ đổi 1 USD đã được duy trì trong một thời gian dài, trước khi Ngân hàng Trung ương Trung Quốc vào ngày 19/6 quyết định tăng tính linh hoạt cho tỷ giá.Từ đó đến đầu năm 2011, Nhân dân tệ đã tăng giá khoảng 3% so với USD. Việc Nhân dân tệ ngày càng lớn mạnh  là một bước đi trong chiến lược “hóa rồng” của Trung Quốc, bởi từ cổ chí kim, vai trò của cường quốc luôn song hành cùng vị thế của đồng tiền quốc gia . Để mở rộng việc sử dụng đồng Nhân dân tệ ra bên ngoài biên giới, Bắc Kinh còn từng bước giảm bớt các hạn chế di chuyển vốn. Chính các biện pháp kiểm soát này đã giúp Trung Quốc tránh được hiện tượng các nhà đầu tư bất ngờ rút vốn ồ ạt, giảm bớt tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.

♦  Khó khăn:

Mô hình tăng trưởng của Trung Quốc là không bền vững và quốc gia này đang đối mặt với nguy cơ chậm lại nếu không nhanh chóng tiến hành cải cách kinh tế chính trị. tình hình căng thẳng xã hội, không khí ô nhiễm, thiếu dịch vụ công và phụ thuộc quá mức vào xuất khẩu và đầu tư, đặc biệt vào bất động sản, sẽ đe dọa nền kinh tế trong tương lai. Tuy kinh tế Trung Quốc tăng trưởng 9,6% trong quý 3/2010 so với cùng kỳ năm trước, nhưng rất nhiều nhà kinh tế đang lo ngại về tình trạng quá nóng sau lạm phát giá tiêu dùng thường xuyên tăng từ 4,4% tháng 10/2010  lên 5,1% trong tháng 11/2010. Tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc đạt mức 9,8% trong quý 4/2010, vượt dự báo trước đó của giới quan sát, đồng thời làm gia tăng áp lực buộc Bắc Kinh phải thắt chặt hơn chính sách tiền tệ để chống lạm phát. Tháng 11/2010, CPI của Trung Quốc tăng 5,1%, mức tăng cao nhất trong 28 tháng. Trong đó, riêng giá thực phẩm – nhóm hàng chiếm 1/3 rổ hàng hóa tính CPI của Trung Quốc – tăng 11,7% so với cùng kỳ năm trước.

Cán cân thương mại của Trung Quốc hiếm khi rơi vào trạng thái thâm hụt. Tuy nhiên, điều này đã xảy ra 1 lần trong năm 2010. Vào tháng 3, Trung Quốc có tháng nhập siêu đầu tiên trong vòng 6 năm, với mức nhập siêu 7,24 tỷ USD. Tính chung cả năm 2010, Trung Quốc đạt mức thặng dư thương mại 183,1 tỷ USD, giảm 7% so với mức 196,1 tỷ USD trong năm 2009. Trong năm 2009, mức xuất siêu của Trung Quốc đã giảm 34% so với mức đỉnh gần 300 tỷ USD đạt được vào năm 2008. Trong tháng 4/2010, tốc độ tăng giá nhà ở 70 thành phố lớn của Trung Quốc so với cùng kỳ năm trước đã đạt đỉnh 12,8%, trước khi giảm tốc trong những tháng sau đó

Công việc quản lý kho dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới của Trung Quốc đang ngày càng trở nên khó khăn hơn. Dự trữ ngoại hối của Trung Quốc đã đạt mức kỷ lục là 2,85 nghìn tỷ USD tính tới quý 4/2010. Trong quý 4, dự trữ ngoại hối của nước này được bổ sung thêm 199 tỷ USD. Theo các chuyên gia kinh tế, một số quốc gia có thể sử dụng con số về dự trữ ngoại hối của Trung Quốc để gây áp lực buộc Bắc Kinh phải đẩy nhanh tốc độ tăng giá đồng Nhân dân tệ. Trong quý 2, GDP của Trung Quốc đã vượt Nhật Bản, đưa Trung Quốc vượt Nhật trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới sau 40 năm vị trí này thuộc về đất nước mặt trời mọc. Tuy nhiên, theo đánh giá của giới phân tích quốc tế, vẫn chỉ là con số tượng trưng, không nói lên được điều gì.Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB), nếu xét về GDP theo đầu người, dân chúng Nhật Bản vẫn là những người giàu nhất nhì trên thế giới. Số liệu cũng cho thấy, khoảng 100 triệu người Trung Quốc gần tương đương dân số Nhật sống dưới mức hai USD một người một ngày. Mặt khác Trung Quốc vẫn chưa thể tạo ra những doanh nghiệp với sức ảnh hưởng thật sự lên toàn thế giới như Toyota hay Sony để tương xứng với vị trí thứ 2 của nền kinh tế. Việc Trung Quốc đang tăng trưởng bùng nổ là không thể phủ nhận. Các thành phố ngày được mở rộng và hiện đại hóa, sức mạnh chính trị của Trung Quốc đang tăng lên rất nhanh, nhưng ngược lại nước này cũng đối mặt với vô số vấn đề phải lấp khoảng trống, như tình trạng đói nghèo ở nông thôn, nạn ô nhiễm môi trường, thiếu hạ tầng cơ sở ở nhiều vùng…

1.6.3  Kinh tế Trung Quốc năm 2011

Mức tăng trưởng của Trung Quốc cao cụ thể là:  Quý 1/2011, tăng trưởng 9,7%, quý 2/2011  tăng trưởng chậm lại ở mức 9.5%. Sản xuất công nghiệp tháng 6/2011 tăng trưởng 15,1%. Chỉ số giá tiêu dùng 4 tháng liên tiếp từ tháng 6 đến 9 đạt mức trên 6% , đặc biệt là tháng 7 với chỉ số là 6.5% cao nhất trong suốt 3 năm. Nửa đầu năm 2011, đầu tư vào tài sản cố định tại Trung Quốc tăng trưởng 25,6% lên 12,4567 nghìn tỷ nhân dân tệ tương đương 1,925 nghìn tỷ USD. Tổng đầu tư vào lĩnh vực bất động sản tăng 32,9% so với cùng kỳ và lên mức 2,63 nghìn tỷ nhân dân tệ; 1,86 nghìn tỷ nhân dân tệ vào bất động sản nhà ở; cao hơn 36,1% so với cùng kỳ. Đầu tư vào tài sản cố định tăng 25,8% trong 5 tháng đầu năm 2011

Mục tiêu quan trọng của năm 2011 là kiềm chế lạm phát, sự tăng trưởng kinh tế có dấu hiệu hạ nhiệt tuy nhiên chỉ số giá tiêu dùng vẫn cao qua các tháng, đang đặt Trung Quốc trước một vấn đề rất khó khăn trong mục tiêu kiềm chế lạm phát.

♦  Khó khăn

Trung Quốc không chỉ đang phải chống lại lạm phát, mà còn phải tái cơ cấu nền kinh tế để giảm phụ thuộc vào xuất khẩu và theo hướng thúc đẩy tiêu dùng  trong nước với hy vọng tạo tăng trưởng cân bằng và bền vững hơn. Trung Quốc cũng đang vấp phải áp lực không nhỏ từ cộng đồng quốc tế phải để đồng nhân dân tệ tăng giá. Các khoản vay khổng lồ mà ngân hàng Trung Quốc bỏ ra cho doanh nghiệp có thể sẻ gặp trục trặc.

♦  Giải pháp

Một số nhà kinh tế đánh giá, giải pháp thực tế cho Bắc Kinh là tư nhân hóa thêm nhiều ngành và để thị trường đóng vai trò lớn hơn. Nhưng  thật tế, sau khủng hoảng tài chính, nhà nước lại giành thêm quyền kiểm soát nền kinh tế. Hiện nay, ngân hàng nhà nước và các công ty nhà nước lớn chỉ miễn cưỡng phải nhượng bộ quyền kiểm soát đối với những ngành đã nắm độc quyền. Vì vậy, vấn đề căn bản nhất cần giải quyết đó chính là cải tổ lại cơ cấu, mở cửa thị trường , tạo thêm việc làm và cải cách  chính sách.