Quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam

 

Từ năm 1954 miền Bắc nước ta bắt đầu khôi phục và phát triển nền kinh tế. Một số ít xí nghiệp của tư sản dân tộc được cải tạo thành công ty cổ phần dưới dạng công -tư hợp doanh với điều kiện Nhà nước lắm quyền quản lý và điều hành sản xuất. Đến cuối những năm 1960 các xí nghiệp này được chuyển thành các xí nghiệp quốc doanh.

Còn ở Miền Nam, sau những năm 1975 do tiến hành cải tạo công thương nên đã ra đời nhiều xí nghiệp cổ phần. Từ năm 1980 các xí nghiệp đó chuyển thành các xí nghiệp quốc doanh.

Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 ( năm1986) thực hiện chủ trương đổi mới quản lý kinh tế của Đảng và Nhà nước là phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. ở nước ta đã xuất hiện một số xí nghiệp công ty cổ phần với quy mô nhỏ bé, trình độ thấp nguồn vốn do các xí nghiệp đóng góp và đang trong giai đoạn sơ khai như: công ty xuất nhập khẩu thuỷ sản (Seapr odex), xí nghiệp vận tải biển Hải Phòng, các công ty cổ phần trong lĩnh vực ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh, hàng loạt các công ty liên doanh nước ngoài và công ty cổ phần tư nhân hoá.Từ năm 1992 tới nay đã thực hiện những giai đoan sau :

+ Giai đoàn thí điểm (1992 – 1995 ):

Trong giai đoạn này Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ( nay là Thủ tướng Chính phủ ) đã ban hành Quyết định số 202/CT ngày 8/6/1992 về thí điểm chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần và Chỉ thị số 84 về việc xúc tiến thực hành thí điểm CPH DNNN và các giải pháp đa dạng hoá hình thức sở hữu đối với các DNNN. Sau 4 năm thực hiện, triển khai quyết định số 202/CT và Chỉ thị số 84 của Thủ tướng Chính phủ (1992 – 1996) đã chuyển được 5 DNNN thành công ty cổ phần

Trong số 5 doanh nghiệp nói trên thì có 4 doanh nghiệp thuộc địa bàn TP Hồ Chí Minh và 1 doanh nghiệp thuộc địa bàn tỉnh Long An.

+ Giai đoạn mở rộng từ năm 1996 đến nay :
Trong giai đoạn này ta có thể tác thành 2 giai đoạn sau:

+ Giai đoạn từ 5/1996 – 7/1998: Trên cơ sở đánh giá các ưu điểm và tồn tại trong giai đoạn triển khai thí điểm CPH DNNN, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 28/CP ngày 7/5/1996 về chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần. Nghị định đã xác định rõ mục tiêu, đối tượng thực hiện CPH : quy định cụ thể nguyên tắc xác định giá trị doanh nghiệp, chế độ ưu đãi cho người lao động trong DNNN và tổ chức bộ máy giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo công tác CPH DNNN. Đồng thời giao nhiệm vụ cho các Bộ, các địa phương hướng dẫn và tổ chức thực hiện. Là giai đầu của thời kì mở rộng công tác CPH từ tháng 5/1996 đến 5/1998 tốc độ CPH đã tăng nhanh hơn. Trong hai năm đã CPH được 25 doanh nghiệp, bằng 5 lần giai đoạn thí điểm. Diện CPH cũng rộng hơn : 3 bộ và 9 tỉnh thành phố có doanh nghiệp CPH. Quy mô doanh nghiệp cũng lớn hơn, có doanh nghiệp vốn trên 120 tỷ đồng, 5 doanh nghiệp có vốn trên 10 tỷ đồng

+ Giai đoạn từ 7/1998 đến nay : Trên cơ sở đánh giá các ưu thế và hạn chế của Nghị định số 28/CP Chính phủ đã ban hành Nghị định số 44/CP ngày 29/6/1998 về vấn đề CPH DNNN thay thế cho các nghị định trước đây. Đây là một mốc quan trọng trong tiến trình CPH DNNN ở Việt Nam. Trên cơ sở đánh giá các ưu thế và hạn chế của Nghị định số 28/CP Chính phủ đã ban hành Nghị định số 44/CP ngày 29/6/1998 về vấn đề CPH DNNN thay thế cho các nghị định trước đây. Đây là một mốc quan trọng trong tiến trình CPH DNNN ở Việt Nam. Nghị định này đã xác định rõ và giảm thiểu danh mục ngành nghề Nhà nước cần giữ 100% vốn, Nhà nước nắm giữ cổ phần đặc biệt, cổ phần chi phối, không hạn chế quy mô doanh nghiệp. Do đó chỉ trong 6 tháng đến 31/12/1998 đã CPH được số doanh nghiệp gấp ba lần hai giai đoạn trước đây. Tức là tính đến ngày 31121998 cả nước đã CPH được 120 DNNN. Năm 1999 là năm đạt kết quả cao nhất về công tác CPH: cả nước đã chuyển được 250 DNNN hoặc bộ phận DNNN thành công ty cổ phần, đạt 55,5% chỉ tiêu nhà nước đề ra(450 DN). Như vậy tính đến ngày 31/12/1999 đã có 370 DNNN hoặc bộ phận DNNN thành công ty cổ phần, trong đó có những DN có vốn lớn như Công ty mía đường Lam Sơn có giá trị tài sản 665 tỷ đồng, vốn Nhà nước tại DN là 92,5 tỷ đồng…. Tuy số DNNN đã CPH đạt con số 370 doanh nghiệp (31/12/1999) nhưng so với tổng số DNNN hiện có thì mới chiếm tỷ lệ rất thấp (6,4%) và so với số vốn Nhà nước hiện có tại khu vực DNNN thì mới cổ phần hoá được 1% phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp. Điều này rõ ràng chưa góp phần hữu hiệu vào việc cơ cấu lại khu vực DNNN trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

Hiện nay tính từ năm 1998 đến đầu năm 2002 thì cả nước đã cổ phần hoá trên 800 doanh nghiệp chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ lệ và thị phần chưa cao trong nền kinh tế quốc dân .Nhưng một số vướng mắc cần giải quyết đặt ra là:

-Tốc độ tiến hành cổ phần hoá còn quá chậm trước năm 1999 cổ phần hoá được 116 doanh nghiệp , năm 1999 cổ phần hoá 249 doanh nghiệp ,năm 2000 là 212 doanh nghiệp ,năm 2002 cả nước mới có trên 800 doanh nghiệp chỉ đạt 38% kế hoạch được giao. Nhưng theo đề án sắp xếp doanh nghiệp Nhà nước từ năm 2002 đến 2005 các bộ ngành địa phương và các tổng công ty 91 phải cổ phần hoákhoảng 2000 DNNN tức là trung bình mỗi năm phải cổ phần hoá500 doanh nghiệp .Nhưng cả năm 2002 cả nước mới cổ phần được 148 doanh nghiệp .Nghĩa là trong 3 năm còn lại trung bình mỗi năm phải có 600 doanh nghiệp được cổ phần hoá .

-Việc tiến hành cổ phần hoá không đồng đều giữa các ngành các địa phương .
-Nhiều mục tiêu cổ phần hóa chưa đạt như mục tiêu huy động vốn của toàn xã hội vào đầu tư phát triển ;mục tiêu tạo điều kiện để người lao động các doanh nghiệp cổ phần có cổ phần ,được mua cổ phiếu với giá ưu đãi .
-Tài sản Nhà nước bị thất thoát nhiều trong quá trình cổ phần hoá do không định giá đúng được tài sản .
-Tổ chức Đảng trong công ty cổ phần chưa được đổi mới về chức năng nhiệm vụ ,phương hướng hoạt động nên lúng túng trong sinh hoạt ,chưa phát huy tốt vai trò lãnh đạo của mình .
Nguyên nhân của tình trạng này bao gồm cả nguyên nhân chủ quan và khách quan vì vậy cần có những giải pháp nhằm khắc phục tình trạng trên