Quá trình đầu tư vào Khu công nghiệp

1. Xây dựng hạ tầng kỹ thuật trong hàng rào.

Để thu hút đầu tư vào KCN, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong việc triển khai nhanh các dự án, ngoài những thành tựu về tài chính và quản lý thuận lợi, việc xây dựng cơ sở hạ t ầng kỹ thuật các KCN đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nhà nước ta chủ trương khuyến khích và tạo các điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN.

Trong quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng KCN, ngoài những khó khăn về vốn đền bù giải phóng mặt bằng là công việc tốn kém, mất nhiều thời gian và tiền bạc của Nhà đầu tư. Không ít KCN tuy có khả năng thu hút được nhiều nhà đầu tư nhưng khó khăn trong việc đền bù, giải toả nên không xây dựng được các công trình hạ tầng và bàn giao mặt bằng sản xuất cho các nhà đầu tư. Tại các điều kiện có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, việc đầu tư xây dựng hạ tầng đem lại hiệu quả kinh doanh thấp và có nhiều rủi ro, do khả năng thu hút vốn đầu tư chậm. Do vậy, cần có phương thức thích hợp để hỗ trợ việc đầu tư xây dựng hạ tầng KCN cần thiết ở những nơi khó khăn.

Lợi ích kinh tế xã hội chung của việc phát triển các KCN là cải thiện môi trường đầu tư, giảm chi phí đầu tư trong đó có việc giảm thuế đất để thu hút đầu tư, nhanh chóng lấp đầy các KCN, bổ sung nguồn vốn cho xã hội tạo việc làm… Tuy giá cho thuê lại đắt, cao và phí phục vụ do doanh nghiệp phát triển hạ tầng ổn định với sự thoả thuận của Ban quản lý KCN cấp tỉnh. Nhưng  nhìn chung mức này còn cao so với ngoài KCN.

Đối với KCN, việc xây dựng cơ sở hạ t ầng kỹ thuật trong hàng rào KCN là để tạo môi trường hấp dẫn cho các nhà đầu tư, giúp các nhà đầu tư có thể tiến hành xây dựng ngay nhà máy để sản xuất, tiết kiệm thời gian, tiền bạc, tạp trung vào hoạt động sản xuất kinh doanh chính của mình.

2. Xây dựng hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào bao gồm các công trình như hệ thống cấp nước, cấp điện, giao thông, thông tin lien lạc…

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng ràng KCN là yếu tố quan trọng để hấp dẫn các nhà đầu tư. Các công trình này cần phải đấu nối với các công trình bên ngoài KCN. Nhưng thực tế hiện nay là nhiều KCN triển khai xây dựng hạ tầng và thu hút đầu tư nhưng phải mất hàng năm để liên hệ với nhiều cơ quan Nhà nước và đôi khi phải tự bỏ tiền để công ty một số công trình ngoài hàng rào. Tình trạng đó còn tồn tại là do thiếu phân công trách nhiệm rõ ràng, nhiều công trình đòi hỏi vốn đầu tư lớn… Do vậy không tỷ lệ lấp đầy các KCN còn hạn chế, mất cơ hội đầu tư. Do vậy vấn đề này cũng cần được đặc biệt quan tâm để có thể thúc đẩy sự phát triển của các KCN hơn nữa.

3.  Thu hút lao động và phát triển hạ tầng xã hội phục vụ sự phát triển KCN.

Cơ sở hạ tầng xã hội bao gồm các nhóm chức năng như hành chính, chính trị, thương nghiệp, dịch vụ các loại, văn hoá xã hội, văn hoá giáo dục, giáo dục đào tạo , du lịch – nghỉ dưỡng – Thể thao. Cụ thể cơ sở hạ t ầng là nàh ở, các công trình phục vụ y tế, văn hoá, giáo dục thể dục thể thao, công viên cây xanh, công cộng, mặt nước, thương nghiệp dịch vụ… phát triển cơ sở hạ tầng, ch để cải tạo hệ thống sẵn có, đồng thời phát triển mới để đáp ứng yêu cầu lâu dài.

Khi các KCN được hình thành thì kéo theo nhu cầu về lao động làm việc trong các KCN tăng lên. Do vậy, ngay từ khi hình thành các KCN phải có kế hoạch thu hút và đào tạo lao động để đáp ứng đủ số lao động và yêu cầu đặt ra.

Sự hình thành các KCN làm cho mật độ dân cư tại các khu công nghiệp gia tăng nhanh chóng, nên nhu cầu về sinh hoạt và  văn hoá cũng phải gia tăng. Vì vậy thu hút lao động và phát triển hạ tầng xã hội phục vụ KCN là hai công việc phải được tiến hành song song và có vai trò quan trọng trong việc phát triển KCN.

4. Nguồn vốn dành cho đầu tư phát triển KCN

Vốn đầu tư phát triển KCN được huy động từ hai nguồn: Vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài.

Vốn đầu tư nước ngoài mà chủ yếu là vốn FDI. Đây là nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển không chỉ đối với các nước nghèo mà cả đối với các nước công nghiệp phát triển. Nguồn vốn FDI có đặc điểm cơ bản khác với các nguồn vốn khác là việc tiếp nhận nguồn vốn này không gây nợ cho nước tiếp nhận. Thay vì nhận lãi suất trên vốn đầu tư. Nhà nước đầu tư sẽ nhận được phần lợi nhuận thích đáng khi dự án đầu tư đi vào hoạt động có hiệu quả. Chính điều này đã kích thích các doanh nghiệp FDI hoạt động có hiệu quả. Mặt khác, qua thực tế phát triển KCN cho thấy phần lớn các Dự án đầu tư vào KCN được thực hiện bằng nguồn vốn FDI. Điều này nói lên rằng quá trình thu hút đầu tư vào KCN cần chú ý quan tâm đến nguồn vốn này.

– Vốn đầu tư trong nước bao gồm vốn Nhà nước, vốn của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Nguồn vốn của các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh có xu hướng ngày càng tăng do các KCN ngày càng hấp dẫn các nhà đầu tư trong nước, đặc biệt sau khi có Luật doanh nghiệp. Mặt khác do các KCN được quy hoặch để phát triển lâu dài, việc thuê đất trong các KCN do không phải đền bù, giải toà, cơ sở hạ t ầng có sẵn, thủ tục đơn giản, thuận lợi. Vốn Nhà nước (Ngân sách Nhà nước) được sử dụng vào việc đền bù giải toả có vốn tư nhân thường là đầu tư vào các công trình cơ sở hạ tầng hay sản xuất kinh doanh.

Vốn đầu tư là yếu tố tiên quyết và có có tình quyết định trong mọi công cuộc đầu tư.

5. Một số chỉ tiêu đánh giá phân tích hoạt động đầu tư phát triển KCN.

Hoạt động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KCN: Tình hình đầu tư xây dựng cơ bản, cụ thể: Tổng số vốn thực hiện đầu tư xây dựng, tổng giá trị xây dựng trong năm, khối lượng xây dựng hoàn thành, mức hoàn thành của các hạng mục công trình, tiến độ xây dựng mức hoàn thành của các hạng mục công trình, tiến dộ xây dựng mức độ hoàn thành đồng bộ hệ thống công trình, tổng diện tích đất công nghiệp có hạ tầng.

Kết quả thu hút đầu tư:xác định với các chỉ tiêu tổng lượng như tổng số Dự án đầu tư vào KCN với cùng tổng số vốn được phân theo vốn đăng ký, vốn thực hiện với vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, nguồn vốn bình quân của dự án, tổng diện tích của các Dự án đăng ký và sử dụng, tổng vốn đầu tư vào KCN phân theo ngành kinh tế – kỹ thuật, tổng số vốn đầu tư mới, số lượt Dự án đang hoạt động, tăng thêm bổ sung cho mục tiêu mở rộng sản xuất hay hiện đại hoá, cải tiến công nghệ, tổng vốn đầu tư phân theo dùng đầu tư từ các quốc gia, vùng, lãnh thổ.

Kết quả sản xuất kinh doanh: kết quả sản xuất kinh doanh tại KCN được phân định theo từng lĩnh vực hoạt động (kinh doanh hạ tầng, sản xuất công nghiệp, các hoạt động dịch vụ công nghiệp), hoặc phản ánh tổng hợp kết quả chung với các chỉ tiêu tổng hợp sau: Số dự án vận hành cùng tổng số vốn thực hiện trong năm; Tổng giá trị sản xuất, doanh thu  sản xuất và sản xuất; kim ngạch nhập khẩu vật tư thiết bị , tổng năng lực sản xuất mới tăng; Tổng chi phí vật chất đầu vào được sản xuất trong nước dùng cho sản xuất trong KCN; Giá trị tăng chế biến công nghiệp; lợi nhuận và các khoản thu nhập của xã hội (nộp thuế; quỹ xã hội); Tổng số lao động (trực tiếp và gián tiếp) làm việc trong các KCN với số tiền lương, trợ cấp có tính chất lương và ngoài lương của lực lượng lao động đó.

Phân tích đánh giá hoạt động đầu tư phát triển KCN là quá trình tổng hợp các kết quả của quá trình chuẩn bị đầu tư, hình thành cơ chế chính sách đầu tư hợp lý, phát triển có hiệu quả các hình thức xúc tiến đầu tư…. Tạo nên kết quả tổng hợp về năng lực thu hút các Dự án, phát triển KCN đi đôi với những thành quả sử dụng đất công nghiệp trong KCN. Trên cơ sở phát huy tính chủ động sáng tạo của các chủ đầu tư, các doanh nghiệp KCN sử dụng có hiệu quả các nguồn lực nhằm tạo ra năng lực sản xuất mới, tăng lợi nhuận và các khoản thu nhập xã hội.