Quá trình sản xuất giá trị thặng dư

có rất nhiều biện pháp và hình thức để sản xuất giá trị thặng dư. C.Mác khái quát thành hai phương pháp chủ yếu là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối.

1) Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: là cái giá trị thặng dư do chỉ đơn thuần kéo dài ngày lao động ra mà có được. Kéo dài ngày lao động ra quá thời gian tất yếu mà người công nhân dùng để cung cấp một vật ngang giá cần cho người đó sống và đem lao động thặng dư đó cho tư bản, như thế là sản xuất ra giá trị thặng dư tuyệt đối. Sự sản xuất đó là cơ sở chung cho chế độ tư bản chủ nghĩa và là điểm xuất phát để sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối.

Trong việc sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối đó, ngày lao động chia thành hai phần: lao động tất yếu và lao động thặng dư. Để kéo dài lao động thặng dư ra, lao động tất yếu tất sẽ bị rút ngắn lại bằng những phương pháp khiến người ta sản xuất một vật ngang giá với tiền công mà lại mất ít thời gian hơn. Việc sản xuất ra giá trị thặng dư tuyệt đối chỉ ảnh hưởng đến thời gian lao động mà thôi, còn việc sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối thì lại làm biến đổi hoàn toàn các biện pháp kỹ thuật và các kết hợp xã hội của lao động. Như vậy là nó phát triển cùng với phương thức sản xuất thực sự tư bản chủ nghĩa.

2) Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối: là cái giá trị thặng dư mà trái lại có được là do rút ngắn thời gian lao động tất yếu và do sự thay đổi tương xứng trong lượng tương đối của hai phần hợp thành ngày lao động.

Ví dụ có một ngày lao động mà chúng ta đã biết giới hạn và ngày lao động đó chia thành lao động tất yếu và lao động thặng dư. Đường thẳng ac

a__________________b________________c

đại biểu chẳng hạn cho một ngày lao động 12 giờ, phần ab là 10 giờ lao động tất yếu và phần bc là 2 giờ lao động thặng dư. Nếu không kéo dài ac ra thì làm thế nào mà có thể tăng việc sản xuất ra giá trị thặng dư lên được. Dù lượng ac là cố định nhưng bc hình như có thể kéo dài ra được, nếu không phải bằng cách kéo dài bc ra ngoài điểm cố định c – điểm này đồng thời cũng là điểm tận cùng của ngày lao động thì ít ra cũng phải bằng cách lùi điểm xuất phát b về phía a.

Giả dụ trong đường thẳng bb bằng một nửa bc nghĩa là bằng một giờ lao động. Nếu bây giờ trong ac, điểm b bị đẩy lùi về phía b thì lao động thặng dư trở thành bc, tăng lên một nửa, tăng từ 2 giờ lên 3 giờ dù toàn bộ ngày lao động vẫn luôn chỉ tính là 12 giờ. Tuy nhiên, việc kéo dài lao động thặng dư ra như thế từ bc thành bc, từ 2 giờ lên đến 3 giờ cũng không sao thực hiện được, nếu không rút ab thành ab, rút lao động tất yếu từ 10 giờ xuống 9 giờ.
Như vậy là việc rút ngắn lao động tất yếu tương xứng với việc kéo dàI lao động thặng dư hay là một phần thời gian lao động mà tư trước đến nay người công nhân vẫn dùng trong thực tế cho bản thân mình, sẽ biến thành thời gian lao động cho nhà tư bản. Thế là giới hạn của nhà tư bản sẽ không thay đổi, nhưng sự phân chia lao động thành lao động tất yếu và lao động thặng dư sẽ thay đổi.

Sự tăng lên của sức sản xuất hay năng suất của lao động chúng ta hiểu nói chung là sự thay đổi trong cách thức lao động. Một sự thay đối làm rút ngắn thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một hàng hoá sao cho một số lượng lao động ít hơn mà lại còn được một sức sản xuất ra nhiều giá trị sử dụng hơn. Khi chúng ta nghiên cứu giá trị thặng dư do kéo dài lao động ra mà có, thì chúng ta giả định là đã biết phương thức sản xuất rồi.
Nhưng nếu muốn kiếm giá trị thặng dư bằng cách biến lao động tất yếu thành lao động thặng dư mà tư bản vẫn cứ giữ y nguyên những cách thức lao động cổ truyền và chỉ biết có đơn thuần kéo dài thời gian lao động ra thôi thì không đủ nữa. Muốn thế thì trái lại tư bản phải cải biến những điều kiện kỹ thuật và điều kiện xã hội, nghĩa là phải cải biến phương thức sản xuất. Chỉ có thế thì tư bản mới tăng năng suất lao động lên được, do đó mà hạ giá thấp giá trị của sức lao động xuống và cũng do đó mà rút ngắn thời gian cần thiết để tái sản xuất ra giá trị sức lao động đó.

Muốn cho việc nâng cao năng suất lên làm cho giá trị sức lao động hạ thấp xuống, thì việc đó phải được thực hiện trong những ngành công nghiệp sản xuất ra những sản phẩm quyết định giá trị của sức lao động đó. Nghĩa là, những ngành công nghiệp cung cấp hoặc những hàng hoá cần thiết cho đời sống của công nhân, hoặc những tư liệu để sản xuất ra hàng hoá đó.

Việc tăng năng suất lao động, trong khi làm cho giá cả những hàng hoá đó hạ xuống, thì đồng thời cũng làm cho giá trị của sức lao động hạ xuống. Ngược lại, trong những ngành công nghiệp không cung cấp những tư liệu sinh hoạt, cũng không cung cấp những yếu tố vật chất của những tư liệu sinh hoạt đó, thì năng suất tăng lên cũng không làm ảnh hưởng gì đến giá trị của sức lao động cả.

Một hàng hoá mà giá rẻ đi, thì chỉ làm giảm giá trị sức lao động theo tỷ lệ nhiều ít mà hàng hoá đó được dùng để tái sản xuất ra sức lao động đó. áo sơ mi chẳng hạn là một vật cần thiết bậc nhất, nhưng cũng còn nhiều vật cần thiết bậc nhất khác nữa. Giá áo sơ mi hạ xuống thì chỉ giảm bớt chi tiêu của người công nhân để mua cái vật cá biệt đó thôi. Tổng số những vật cần thiết cho đời sống chỉ gồm có những hàng hoá như thế do các ngành công nghiệp khác nhau sản xuất ra.

Giá trị của từng hàng hoá thuộc loại đó là một phần của giá trị sức lao động, toàn bộ phần giảm đi của giá trị sức lao động đó thì được đo bằng tổng số thời gian mà lao động tất yếu đã được rút ngắn đi trong tất cả các ngành sản xuất đặc biệt. Kết quả cuối cùng ở đó, chúng ta coi như là kết quả trực tiếp và mục đích trực tiếp. Khi một nhà tư bản hạ thấp giá áo sơ mi xuống, chẳng hạn bằng cách nâng cao năng suất lao động lên thì không nhất thiết nhà tư bản có ý định làm giảm bớt giá trị của sức lao động và do đó rút ngắn ngày lao động mà người công nhân dùng để làm việc cho bản thân.

Nhưng rút cục lại chỉ có góp phần làm cho đạt được kết quả đó, nhà tư bản mới giúp cho việc nâng tỷ suất chung của giá trị thặng dư lên được. Phải phân biệt những xu hướng chung và tất yếu của tư bản với những hình thức biểu hiện của những xu hướng đó.

Việc quy định giá trị theo thời gian lao động là một quy luật bắt buộc đối với nhà tư bản dùng những phương pháp cải tiến vì quy luật đó buộc anh ta phải bán hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội của hàng hoá đó. Đó là quy luật cưỡng bức của cạnh tranh, nó bắt buộc những kẻ cạnh tranh với nhà tư bản phải dùng phương thức sản xuất mới. Vậy là tỷ suất chung của giá trị thặng dư rút cục chỉ bị ảnh hưởng, khi việc nâng cao năng suất lao động làm hạ thấp giá cả của những hàng hoá nằm trong phạm vi những tư liệu sinh hoạt cấu thành những yếu tố của giá trị sức lao động.

Do chạy theo giá trị thặng dư và cạnh tranh cũng như do sự tác động của quy luật giá trị, các nhà tư bản luôn luôn tìm cách thay đổi đIều kiện sản xuất theo hướng ngày một tối ưu để hạ giá trị cá biệt của hàng hoá xuống thấp hơn giá trị xã hội. Nhà tư bản nào làm được điều đó sẽ thu được phần giá trị thặng dư trội hơn giá trị thặng dư bình thường của xã hội gọi là giá trị thặng dư siêu ngạch.