Quá trình thực hiện đường lối đối ngoại đổi mới

Chính sách đối ngoại đổi mới mà đại hội VI đề ra là kiên trì thực hiện nhiệm vụ chiến lược giữ vững hoà bình, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi, tập trung cao nhất, nhằm từng bước ổn định và tạo cơ sở cho phát triển kinh tế trong vòng 25 năm đến 30 năm (tức đến năm 2020), xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ độc lập của tổ quốc góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh  chung cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Đây là mục tiêu chiến lược và ích lợi cao nhất của toàn Đảng và toàn dân ta. Chính sách đối ngoại đổi mới phải góp sức mình vào sự nghiệp chung đó.

Ngay sau khi đưa chính sách đối ngoại vào thực hiện, Đảng và nhà nước đã “đưa vấn đề Campuchia ra để giải quyết bằng con đường hoà bình”. Những giải pháp đưa ra trong chính sách để giải quyết vấn đề Campuchia, đã có tác động thúc đẩy tác động đến một giải pháp chung trong vấn đề Campuchia đi đến một giải pháp hoà bình toàn diện, đến năm 1989 thì cơ bản hoàn thành bằng tuyên bố về một giải pháp chính trị toàn diện cho xung đột ở Campuchia. Việt Nam và ASEAN cùng tìm ra một giải pháp đồng bộ cho vấn đề này, từ đây 2 nhóm nước hiểu nhau hơn, tin tưởng nhau hơn. Điều đó có ý nghĩa rất to lớn trong việc mang lại ổn định an ninh cho khu vực và làm giảm nguy cơ xung đột tại khu vực Đông Nam Á vốn đang tiềm tàng nhiều mâu thuẫn giữa các nước. Đây chính là thành công đầu tiên của chính sách đối ngoại đổi mới. Bắt đầu từ thành công này tình hình ở Đông Nam Á được cải thiện từ đối đầu sang đối thoại, tạo xu thế hoà bình, hữu nghị, hợp tác. Với các nước Đông Nam Á, nước ta chủ trương mở rộng quan hệ về mọi mặt trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, hai bên cùng có lợi. Những năm qua cũng đã ghi nhận những cố gắng to lớn của nhà nước ta trong việc cải thiện quan hệ với các nước khu vực Đông Nam Á – ASEAN.

Tháng giêng năm 1989, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh tuyên bố “Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẵn sàng quan hệ hữu nghị với các nước ASEAN và các nước khác trong khu vực[1]. Từ đây các cuộc đi thăm lẫn nhau của các nhà lãnh đạo cấp cao Việt Nam và của các nước ASEAN đã đạt được những thoả thuận quan trọng và đặt nền móng cho một thời kỳ mới trong quan hệ giữa nước ta với các nước ASEAN. Ngày 22 tháng 7 năm 1992, Việt Nam tham ký hiệp ước thân thiện Bali và trở thành quan sát viên của ASEAN. Có thể nói đây là một tiền đề quan trọng cho sự hội nhập của Việt Nam sau này. Ngày 28/7/1995 Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN, đây là một thành công to lớn của ngoại giao Việt Nam, có ý nghiã quyết định cho tiến trình hội nhập khu vực và thế giới của Việt Nam.

Sau khi hội nhập ASEAN, Việt Nam đã trở thành nhân tố rất năng động của tổ chức này, sau sự tổ chức thành công của hội nghị cấp cao ASEAN tháng 12/1998 ở Hà Nội, Việt Nam càng chứng tỏ là một hạt nhân tích cực của tổ chức này. Quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại giữa Việt Nam và các nước ASEAN ngày càng được đẩy mạnh.

Năm 1994 thương mại 2 chiều đạt 2,4 tỷ USD, chiếm 28% tổng kim ngạch ngoại thương của Việt Nam. Đến năm 1996 tăng lên 6 tỷ USD chiếm 33% kim ngạch xuất khẩu và 27% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam. Cho đến năm 1998 khi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ đang ở đỉnh cao thì các nước ASEAN vẫn chiếm 25% kim ngạch xuất khẩu và 18% đầu tư nước ngoài vào Việt Nam [2].

Sau khi hội nhập ASEAN, chúng ta tham gia vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA). Tuy nhiên, do sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa Việt Nam và một số nước trong khuôn khổ AETA nên Việt Nam cần có thời gian để điều chỉnh. Các nước ASEAN đã đồng ý kéo dài thời hạn giảm thuế quan của Việt Nam đến năm 2006 thay vì 2003 như các thành viên khác.

Mặc dù được đánh giá là khu vực phát triển năng động của Châu Á – Thái Bình Dương và của thế giới, nhưng cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1997 đã ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển chung của khu vực, đối phó với vấn đề này là rất khó, đòi hỏi các nước ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng cần phải nghiên cứu, rút kinh nghiệm và đề ra những giải pháp mang tính phòng ngừa hữu hiệu, xây dựng mô hình phát triển bền vững hơn, ổn định hơn cho từng thành viên của toàn khu vực.

Tóm lại, việc gia nhập ASEAN của Việt Nam là hướng đúng. Về kinh tế, ta có thể tranh thủ được vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ các nước ASEAN tiên tiến. Tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, mở rộng thị trường trong khu vực.

Về an ninh, chính trị, Việt Nam tham gia vào diễn đàn khu vực ASEAN chuyên bàn về những vấn đề an ninh khu vực ASEAN (ARF), khi tham gia vào ASEAN chúng ta có thể góp phần củng cố môi trường xung quanh mình, tạo dựng một vành đai an toàn mang tính chiến lược, bên cạnh đó khi tham gia vào ASEAN tiếng nói của Việt Nam sẽ có thế và lực hơn trên thị trường quốc tế. Hơn nữa, nếu các nước ASEAN gạt bỏ được những bất đồng tranh chấp không đáng kể để đi tới một đồng thuận trong việc giải quyết vấn đề tranh chấp ở Biển Đông đối với Trung Quốc thì tình hình sẽ bớt đi căng thẳng, nhanh

*Đối với Trung Quốc

Việt Nam – Trung Quốc là hai nước láng giềng gần, có quan hệ hữu nghị văn hoá và lịch sử lâu dài. Chúng ta luôn quý trọng tình hữu nghị với nhân dân Trung Quốc, với mong muốn khôi phục lại mối quan hệ hữu nghị giữa hai dân tộc. Trong yêu cầu để hai bên Việt – Trung có thể đi đến bình thường hoá quan hệ đó là thế giới đang tích cực chuyển từ đối đầu sang đối thoại, mọi vấn đề tranh chấp quốc tế, các quốc gia trên thế giới ngày càng đi theo xu thế giải quyết bằng thương lượng hoà bình. Nhu cầu hoà bình là vấn đề “tự thân” các nước phải phấn đấu, bởi chỉ có hoà bình mới có thể “dồn” sức cho phát triển kinh tế và quan hệ Việt – Trung cũng không nằm ngoài quy luật đó. Trong vấn đề đặt lại quan hệ ngoại giao giữa hai nước, cả hai nước đề nhằm tới một mục tiêu là gạt bỏ đối đầu, mọi tranh chấp về biên giới lãnh hải và các vấn đề xung đột giữa hai nước đều giải quyết bằng thương lượng hoà bình. Ngoài ra hai nước còn muốn khôi phục lại quan hệ ngoại giao truyền thống có từ lâu do hai lãnh tụ Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh vun đắp cho tình hữu nghị của hai dân tộc.

Cùng với việc nối lại mối quan hệ ngoại giao hai nước còn tìm thấy ở nhau những tiềm năng có thể hợp tác được trong vấn đề kinh tế, như nhu cầu thị trường của hai bên đều lớn do hai nước cùng thi hành chính sách phát triển kinh tế dựa vào xuất khẩu là chính. Việt Nam mong muốn Trung Quốc giúp ta sửa chữa nâng cấp một số nhà máy, xí nghiệp mà Trung Quốc giúp ta xây dựng trước kia như nhà máy gang thép Thái Nguyên và các nhà máy xi măng lò đứng của Trung Quốc. Còn phía Trung Quốc có nhu cầu về nguồn nguyên liệu lớn nhất là nguồn nguyên liệu than đá, trong khi Việt Nam có thế mạnh ở điểm này, ngoài ra Trung Quốc cần một thị trường tiêu thụ hàng hoá tiêu dùng do các địa phương giáp Việt Nam sản xuất… Tính đến khi hai bên cùng mở cửa biên giới cho hai bên giao lưu buôn bán hàng hoá thì hàng hoá Trung Quốc tràn vào Việt Nam rất nhiều, nhất là hàng tiêu dùng với giá cả mẫu mã phong phú.

Có thể đánh giá nhu cầu hai bên về việc bình thường hoá quan hệ là rất cần thiết. Nhất là đối với Việt Nam, việc bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc giúp nước ta có thêm bạn bè, tạo môi trường thuận lợi để phá vỡ thế bao vây cô lập… Khôi phục và phát triển quan hệ với Trung Quốc là nhiệm vụ trọng tâm của nước ta trong chính sách đối ngoại đối nội.

Các cuộc gặp cấp cao Việt Trung từ tháng 9/1990 diễn ra tại Thành Đô (Trung Quốc)[3] đã mở ra một trang sử mới trong việc khai thông quan hệ giữa hai nước, đến trung tuần tháng 11 năm 1991 tại Bắc Kinh hai bên đã ra thông cáo chung: việc bình thường hoá quan hệ Việt – Trung phù hợp với lợi căn bản, lâu dài của nhân dân hai nước, có lợi cho hoà bình ổn định ở khu vực, đây là sự kiện “khép lại quá khứ, mở ra tương lai” hai nước là đồng chí, không phải là đồng minh. Tranh chấp giữa hai nước cần được được giải quyết theo hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế, thông qua thương lượng hoà bình, không được sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực.

Tuy nhiên các vấn đề cần giải quyết giữa hai nước là: vấn đề biên giới trên bộ, tranh chấp ở biển Đông, phân định vịnh Bắc Bộ. Tháng 10 năm 1993 Tổng bí thư Đỗ Mười đã tuyên bố “Việt Nam chủ trương giải quyết tranh chấp giữa các nước, kể cả tranh chấp về các quần đảo ở Biển Đông, thông qua thương lượng hoà bình trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng luật pháp quốc tế và Công ước về luật biển năm 1982 và chủ quyền các nước ven biển đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của họ”[4].

Đến ngày 30-12-1999, hai nước đã hoàn thành phân định 164 điểm còn tranh chấp biên giới trên bộ và ký kết Hiệp định biên giới trên bộ. Còn những vấn đề còn lại như: phân định vịch Bắc Bộ và những vấn đề khác do lịch sử để lại. Qua các cuộc gặp gỡ hàng năm, hai bên đã thống nhất về nguyên tắc: Khai thác những điểm chung, gác lại những bất đồng, cùng nhau thương lượng, giải quyết từng bước trên cơ sở hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi. Bước sang giai đoạn mới, hai bên thống nhất cần phải đẩy mạnh hơn nữa quan hệ hữu nghị, hợp tác lên một bước mới về chất cho phù hợp với nhu cầu lợi ích của hai bên.

Trong chuyến thăm hữu nghị Trung Quốc của Tổng bí thư Đảng cộng sản Lê Khả Phiêu đầu năm 1999, hai bên đã thảo luận thống nhất về nguyên tắc quan hệ Việt – Trung từ nay sẽ phát triển theo tinh thần 16 chữ:

“Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện

Ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”

Ngày 26 – 12 – 2000 nhân chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã ra một thông cáo chung về Hợp tác toàn diện và ký Hiệp ước phân định vị trí Bắc Bộ

* Đối với Mỹ.

Một thành công của công tác đối ngoại trong giai đoạn đổi mới là việc Việt Nam bình thường hoá quan hệ với Mỹ vào ngày 11-7-1995, khép lại một quá khứ đau thương và mở ra tương lai trong quan hệ hai nước.

Trước sự thay đổi của thế giới, trước chính sách đối ngoại đổi mới rộng mở cùng tồn tại hoà bình của Việt Nam (1986) và những thiện chí của Việt Nam trong vấn đề POW và MIA (người Mỹ mất tích trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam), chính quyền Mỹ đã phải thay đổi chính sách của mình, đã tuyên bố xoá bỏ cấm vận đối với Việt Nam (3-2-1994). Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng ra tuyên bố hoan nghênh tuyên bố của Chính phủ Mỹ và bày tỏ sẵn sàng “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”.

Ngày 11-7-1995, Tổng thống Mỹ Clinton tuyên bố về việc bình thường hoá quan hệ với Việt Nam “Hôm nay tôi loan báo việc bình thường hoá các quan hệ ngoại giao với Việt Nam ”[5]

Đầu tháng 8/1995, Hoa Kỳ và Việt Nam đã chính thức lập quan hệ ngoại giao và mở đại sứ quán ở thủ đô hai nước.

Có thể thấy rằng chiến lược của Mỹ đối với Việt Nam hiện nay là một bộ phận nằm trong chiếm lược toàn cầu của Mỹ. Mỹ rất chú trọng đến vị trí chiến lược của Việt Nam ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương trong đó bao gồm cả Đông Nam Á.

Nội dung chiến lược của Mỹ đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay bao gồm những trọng điểm sau:

– Bình thường hoá quan hệ với Việt Nam giúp cho Mỹ có cơ hội xoá bỏ được những mâu thuẫn trong nội bộ nước Mỹ. Giải quyết hết những di sản của chiến tranh trước đây, đồng thời mở đường cho các nhà kinh doanh Mỹ thâm nhập thị trường Việt Nam buôn bán và đầu tư, đem lại thêm lợi nhuận, việc làm và lợi thế mới cho Mỹ trong cuộc cạnh tranh kinh tế và thương mại toàn cầu hiện nay.

Tuyên bố của Tổng thống Mỹ Bill- Clinton về việc bình thường hoá quan hệ với Việt Nam đã nêu rõ những vấn đề mà Mỹ rất quan tâm. Đó là, việc tìm kiếm hết những người Mỹ mất tích trong chiến tranh, tạo điều kiện cho Mỹ thoát khỏi “hội chứng Việt Nam” và làm cho xã hội Mỹ khỏi bị chia rẽ. Mỹ cũng hy vọng Việt Nam sẽ phồn vinh hơn với sự hỗ trợ của Mỹ trong tương lai để thực hiện nền kinh tế thị trường và mở cửa.

Chỉ sau ba năm bình thường hoá quan hệ với Việt Nam, Mỹ đã trở thành một trong những nước đầu tư lớn vào Việt Nam (trên 1 tỷ USD – đứng hàng thứ 8), kim ngạch buôn bán giữa hai nước tăng lên nhanh chóng hàng năm. Tương lai Mỹ có thể là nước dẫn trong việc đầu tư và buôn bán với Việt Nam. Tất cả các công ty lớn của Mỹ đã mở văn phòng ở Việt Nam.

– Bên cạnh đó Mỹ theo chiến lược lâu dài, thực hiện “diễn biến hoà bình” để chuyển hoá Việt Nam đi vào quỹ đạo của Mỹ, triệt tiêu mục tiêu và bản chất xã hội chủ nghĩa của Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản của Việt Nam, toàn quân, toàn dân ta đoàn kết với tinh thần “Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”. Thực hiện đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ đối ngoại, tranh thủ sức mạnh của thời đại kết hợp với việc phát huy nội lực đất nước và con người Việt Nam, nhất định chúng ta sẽ thực hiện thành công sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Mọi âm mưu nham hiểm của các thế lực thù địch nhất định sẽ bị thất bại.

Trong quan hệ với Mỹ, Chính phủ Việt Nam luôn luôn xuất phát từ lập trường nguyên tắc là đảm bảo “ cho quan hệ giữa hai nước trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, cùng có lợi và phù hợp với các nguyên tắc phổ biến của luật pháp quốc tế.[6]

Đến ngày 19-7-2000 hai nước Việt Nam – Mỹđã hoàn thành việc ký kết Hiệp định thương mại giữa hai nước, đánh dấu sự phát triển hơn nữa quan hệ thương mại giữa hai nước. Và gần đây nhất, chuyến đi thăm lịch sử lần đầu tiên của Tổng thống Mỹ W.J.Clinton từ ngày 16 đến ngày 19-11-2000 đã đánh dấu mong muốn hơn nữa phát triển trong quan hệ giữa hai nước trên tinh thần “Khép lại quá khứ, hướng tới tương lai” phấn đấu vì lợi ích của nhân dân hai nước.

Tóm lại, bình thường hoá quan hệ với Mỹ là một thành công quan trọng của ngoại giao Việt Nam. Việt Nam đã đánh bại âm mưu cô lập, cấm vận về kinh tế của các thế lực thù địch đối với Việt Nam và các nước, các tổ chức quốc tế khác. Bình thường hoá quan hệ Việt – Mỹ mở ra cho Việt Nam những cơ hội mới, đồng thời cũng tạo ra những thách thức mới. Việt Nam cần khai thác những mặt thuận lợi để thúc đẩy phát triển kinh tế đồng thời luôn phải cảnh giác với âm mưu “Diễn biến hoà bình” của Mỹ.

* Đối với EU.

Trong chính sách đối ngoại đổi mới của Việt Nam, việc tăng cường hợp tác và mở rộng quan hệ với các nước EU là rất quan trọng. Bởi đây là một trong ba trung tâm kinh tế chính trị của thế giới có thế mạnh đặc biệt về vốn và công nghệ. Tranh thủ được các nước Tây, Bắc Âu này sẽ tạo điều kiện rất thuận lợi cho sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước ta. Việc thi hành chính sách đổi mới của Việt Nam đã tạo cơ sở, hành lang vững chắc cho quan hệ của Việt Nam với các quốc gia trên khu vực này. Ngay từ khi Mỹ chưa gỡ bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam, các quốc gia EU đã khởi động quan hệ kinh tế thương mại với nước ta, nối lại ODA (viện trợ không hoàn lại) cho Việt Nam.

Ngay từ 22 – 10 -1990 nước ta và EU ký hiệp định về lập quan hệ ngoại giao và trao đổi Đại sứ. Đây là bước phát triển quan trọng thể hiện thiện chí quan hệ hợp tác giữa hai bên. Từ đó quan hệ hợp tác ta và EU không ngừng được tăng cường và mở rộng. Ta chủ trương thúc đẩy quan hệ hợp tác với các nước EU và cả cộng đồng Châu Âu dưới cả hai hình thức: song phương và đa phương. Do vậy “Pháp đã vận động các nước EC và EU cho Việt Nam vay 1 tỷ 800 triệu USD năm 1994 và 2 tỷ USD năm 1995”[7] và từ khi Mỹ bỏ cấm vận, các tổ chức IMF, WB đã cho Việt Nam vay 1 tỷ 500 triệu USD”12. Ngày 17-7-1995, tại trụ sở EU ở Bruxcells (Bỉ) Bộ trưởng ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm và Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng liên minh Châu Âu Javier Salana đã ký chính thức hiệp định hợp tác giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng đồng Châu Âu trước sự chứng kiến của 15 bộ trưởng ngoại giao của 15 nước thành viên EU. Hiệp định này quy định những điều khoản về đầu tư, thương mại, buôn bán trao đỏi, cho vay… giữa EU và Việt Nam, tạo dựng một môi trường thuận lợi để mở rộng quan hệ hợp tác trên nhiều lĩnh vực giữa hai bên. Tháng 9-1996, Uỷ ban hỗn hợp Việt Nam – EU họp tại Hà Nội đã ký hai văn kiện quan trọng, đó là: Chiến lược hợp tác Việt Nam – EU 1996-2000 và chương trình hành động có định hướng 3 năm 1996-1998, lập ra 3 tổ công tác hỗ hợp phụ trách các lĩnh vực hợp tác phát triển, kinh tế, đầu tư. Tháng 3-1997, Việt Nam chính thức tham gia hiệp định hợp tác ASEAN – Eu. Hai bên đã thực hiện nhiều chuyến thăm cấp cao, tăng cường hợp tác chính trị. Là một nước thành viên của ASEAN, Việt Nam đã tham dự cuộc gặp cấp cao Á – Âu lần thứ nhất (1996) và lần thứ hai (1998) gọi tắt là ASEM-1 và ASEM-2, lần thứ ba tại Xơun (Hàn Quốc) – ASEM 3. Đây là một cơ chế hợp tác liên châu lục, giữa một châu Âu hiện đại đang phát triển, giầu tiềm năng.

Tóm lại, việc mở rộng quan hệ, thúc đẩy hợp tác giữa Việt Nam và Eu là chủ trương đúng đắn phù hợp với quan điểm đa dạng hoá, đa phương hoá mà Đảng ta đã đề ra cho công tác đối ngoại trong thời kỳ đổi mới. Tăng cường quan hệ với EU sẽ có lợi rất lớn đối với sự nghiệp phát triển kinh tế của nước ta. Song chúng ta cũng không quên rằng đa số thành viên EU là đồng minh chiến lược của Mỹ, cùng chung những giá trị về dân chủ tự do kiểu phương Tây.

Vì vậy, việc thúc đẩy, mở rộng quan hệ dựa trên cơ sở thận trọng, cân nhắc kỹ lưỡng, nắm vững nguyên tắc độc lập tự chủ vừa hợp tác vừa đấu tranh trong cùng tồn tại hoà bình.

            * Đối với Liên bang Nga.

Sau khi Liên Xô tan rã (1991), so với 14 nước cộng hoà còn lại, Liên bang Nga là nước lớn nhất kế thừa Liên Xô về mọi mặt. Bước lên vũ đài quốc tế với một thể chế chính trị mới, với những hành trang trong đó có chính sách đối ngoại “ Định hướng Đại Tây Dương” được áp dụng trong giai đoạn từ 1991-1993. Nội dung cơ bản của chính sách đối ngoại này là thân phương Tây, tìm kiếm sự công nhận về mặt ngoại giao và thu hút vốn đầu tư từ phương Tây để khôi phục nền kinh tế. Vì vậy, quan hệ Việt – Nga thời kỳ này cơ bản là ngưng trệ, một phần do chính sách đối ngoại của Liên bang Nga, phần khác Việt Nam cũng muốn có thời gian để nhận diện lại đối tác của minh.

Từ 1994 đến nay, quan hệ Việt – Nga đã có những chuyển biển tích cực, trước hết do sự điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Liên Bang Ngan và các cuộc viếng thăm của lãnh đạo hai nước.

Với việc phát triển quan hệ với Liên Bang Nga, một bạn hàng truyền thống, Việt Nam có thể đi trước các nước trong khu vực trong việc tranh thủ thị trường gần 170 triệu dân, có thể tranh thủ các nước SNG khác. Ngược lại Nga cũng muốn thông qua bạn hàng truyền thống là Việt Nam để vũ khí Nga thâm nhập và thị trường ASEAN.

Hiện nay lĩnh vực hợp tác mà hai nước Việt Nam và Liên Bang Nga quan tâm nhất là dầu khí, tiêu biểu là VietSopetro, nhà máy lọc dầu Dung Quất…

Nói chung, trong xu thế toàn cầu hoá, quốc tế hoá nền kinh tế thế giới hiện nay, việc thúc đẩy quan hệ hợp tác với các nước lớn như Liên Bang Nga sẽ rất có lợi cho việc phát triển kinh tế của các nước đang phát triển như Việt Nam. Mặc dù quan hệ hợp tá giữa hai nước hiện nay chưa tương xứng với tiềm năng của hai nước. Song với những ưu thế của mình, Liên Bang Nga – Việt Nam sẽ trở thành đối tác quan trọng của nhau vì lợi ích của nhân dân hai nước.

* Bên cạnh việc thúc đẩy quan hệ với các nước, các nước láng giềng và truyền thống, chính sách đối ngoại đổi mới của Việt Nam cũng rất chú trọng đến khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

Được đánh giá là khu vực năng động nhất của thế giới, thế kỷ XXI là thế kỷ của Châu Á – Thái Bình Dương. Khu vực này đã, đang và sẽ là một điểm nóng của nền kinh tế thế giới.

Việt Nam chủ trương mở rộng các nước của khu vực này, từ Đông Bắc Á đến Nam Thái Bình Dương. Nhiều nước ở đây có nền kinh tế phát triển cao và giàu tiềm năng như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Nga… Bằng sự nỗ lực hoạt động ngoại giao từ sau khi áp dụng chính sách đối ngoại đổi mới, Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ trong quan hệ với các nước ở khu vực này. Đối với Nhật Bản, quan hệ giữa hai nước được đánh dấu bằng hành động mở lại viện trợ phát triển (ODA) cho Việt Nam của Nhật Bản. Sau 14 năm gián đoạn, đây là bước khởi đầu thuận lợi, tạo ấn tượng tốt đẹp thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa hai nước. Những cuộc đi thăm chính thức của các quan chức cấp cao giữa hai nước đã taok tiền đề cho quan hệ buôn bán, đầu tư trên quy mô lớn của Nhật Bản vào Việt Nam.

Về cơ bản, cho đến năm 1997 đã có 9 nước thuộc khu vực Châu Á – Thái Bình Dương trong tổng số 11 nước đầu tư vào Việt Nam hơn 1 tỷ USD. Đó là Singapore 4918,8 triệu USD; Đài Loan 4255,3 USD; Hồng Kông 3433,8 triệu USD; Nhật Bản 3275,1 triệu USD; Hàn Quốc3053,3 triệu USD; Thái Lan 1035 triệu USD và Malayxia 1048 triệu USD[8]. Có thể nói sự thật đây là những đối tác quan trọng của Việt Nam. Ta không chỉ khai thác được ở họ vốn, công nghệ hay các kỹ năng quản lý mà còn có thể học hỏi, rút kinh nghiệm từ quá trình phát triển kinh tế của các nước này.

Để mở rộng quan hệ hợp tác và phù hợp với chủ trương đã đề ta, chúng ta không dừng lại ở mức độ hợp tác song phương mà còn đẩy mạnh quan hệ đa phương của khu cực. Tháng 6-1996 ta đã chính thức nộp đơn xin ra nhập tổ chức Hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC). Với những nỗ lực trong việc tham gia ASEAN, APEC chúng ta đã thực hiện thành công chính sách đối ngoại khu vực và thế giới.

Cùng với việc tăng cường và mở rộng quan hệ hợp tác với các nước, các khu vực trên thế giới trong thời gian qua, ngoại giao Việt Nam còn tham gia tích cực vào việc giải quyết những vấn đề toàn cầu như môi trường, dân số, y tế, giáo dục… Năm 1997, Việt Nam được bầu làm phó chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khoá 52 (1997 – 1998). Việt Nam còn được bầu làm uỷ viên Hội đồng kinh tế – xã hội của LHQ (ECOSOC), một cơ quan quan trọng vào bậc nhất của LHQ. Là thành viên mới của Hội nghị giải trừ quân bị, Việt Nam đã tham gia soạn thảo và ký kết hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhân toàn diện (CTBT). Bên cạnh đó ta cũng góp phần tích cực vào mục tiêu chung là đòi cải tổ LHQ theo hướng dân chủ hoá, đảm bảo quyền bình đẳng giữa các quốc gia. Ngoài ra chúng ta tham gia tích cực và chủ động vào tổ chức không liên kết, thúc đẩy hợp tác giữa các nước G77 kêu gọi tăng cường hợp tác Nam – Nam, đấu tranh vì công bằng trong quan hệ Bắc – Nam. Không những thế chúng ta cũng là một nhân tố năng động trong cộng đồng các nước có sử dụng tiếng Pháp. Điều này đã được chứng tỏ bằng việc tổ chức thành công Hội nghị thượng đỉnh các nước có sử dụng tiếng Pháp vào cuối tháng 5-1998 đã gây ấn tượng tốt đẹp đối với các thành việc của tổ chức này.

* Đối với các Đảng cộng sản và công nhân quốc tế. Trong điều kiện phong trào đảng cộng sản và công nhân quốc tế đang bị thoái trào, quan hệ giữa các Đảng cộng sản và Nhà nước với các Đảng cộng sản và công nhân quốc tế được chúng ta coi là ưu tiên trong chính sách đối ngoại. Đại hội VIII đã khẳng định: “Đảng ta tiếp tục phát triển quan hệ đoàn kết, hữu nghị với các Đảng cộng sản và công nhân, các phong trào độc lập dân tộc, các tổ chức và phong trào tiến bộ trên thế giới.[9]

Đối với các Đảng cộng sản và công nhân đang cầm quyền, Đảng cộng sản Việt Nam tăng cường đoàn kết, hữu nghị trên cơ sở tôn trọng độc lập, tự chủ với tinh thần khai thác những điểm tương đồng, hạn chế bất đồng, phấn đấu vì mục tiêu xã hội chủ nghíac. Các Đảng cộng sản và công nhân cầm quyền hiện nay chỉ còn 5 nước, đó là Việt Nam; Trung Quốc; Lào; CuBa; Bắc Triều Tiên. Với Là và CuBa quan hệ đó vừa là quan hệ với các Đảng cộng sản và công nhân, vừa là quan hệ với các nước láng giềng.

Bên cạnh việc xây dựng quan hệ tốt với Trung Quốc, Lào. Đối với CuBa, Việt Nam luôn khẳng định đây là mối quan hệ tốt đẹp truyền thống. Việt Nam cũng luôn ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân CuBa vì mục tiêu hoà bình, đọc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Việt Nam tích cực giúp đỡ CuBa trong khả năng cho phép của mình. Với Cộng hoà nhân dân Triều Tiên, Việt Nam vẫn giữ vững hợp tác, quan hệ hữu nghị bình đẳng, ủng hộ sự nghiệp thống nhất đất nước của nhân dân Triều Tiên. Gần đâu quan hệ giữa hai Đảng và hai Nhà nước có những bước tiến mới sau một thời gian dài chững lại.

Đối với các Đảng cộng sản và công nhân chưa cầm quyền, Việt Nam tiếp tục ủng hộ về chính trị, trao đổi kinh nghiệm đấu tranh và giúp đỡ về vật chất trong điều kiện cho phép của Việt Nam.

Tóm lại: Từ sau những năm 1975, Việt Nam từ một nước bị bao vây cấm vận về kinh tế, cô lập chính trị. Đến những năm 1990 Việt Nam đã bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, ký hiệp định Paris về Campuchia, đặc biệt Việt Nam bước đầu thành công trong công cuộc đổi mới, thực hiện đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại trên cơ sở độc lập tự chủ nên đã mở ra thời kỳ cải thiện quan hệ với hầu hết các nước và các tổ chức quốc tế, phá được thế bao vây, cô lập và cấm vận.

Hiện nay Việt Nam đã lập quan hệ ngoại giao với 168 nước và hơn 200 tổ chức chính trị trên thế giới, vị thế quốc tế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao.

Thắng lợi của hoạt động đối ngoại trong những năm qua cùng với những thắng lợi trên lĩnh vực đối ngoại đảm bảo cho các hoạt động của Đảng và Nhà nước dứng vững trong điều kiện thế giới có nhiều biến động, đồng thời những thắng lợi này cũng khẳng định chính sách “Đa dạng hoá, đa phương hoa quan hệ đối ngoại” của Đảng và Nhà nước Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn phù hợp với mục tiêu “Việt Nam là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế ”[10]. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam có quan hệ bình thường với tất cả các nước lớn, các tổ chức quốc tế có vai trò quan trọng trên thế giới, đây là nền tảng thuận lợi cho Việt Nam bước vào thiên niên kỷ mới.