Quan điểm của Đảng về cơ cấu ngành kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình CNH ở nước ta qua các kỳ Đại hội

Tại Đại hội lần thứ III của Đảng (09/1960), vấn đề cơ cấu ngành kinh tế lần đầu tiên được đề cập đến với quan điểm chỉ đạo là “ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ” (ĐCSVN, 1960, trang 79).

Mười sáu năm sau, sau khi hoàn thành nhiệm vụ thống nhất đất nước, Đại hội lần thứ IV của Đảng (12/1976) đã khẳng định “ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ” (ĐCSVN, 1977, trang 57). Mặc dù việc thay thế cụm từ “đồng thời” bằng cụm từ “trên cơ sở” với hàm nghĩa xác định rõ hơn vai trò làm cơ sở của nông nghiệp và công nghiệp nhẹ đối với sự phát triển của công nghiệp nặng, nhưng tư tưởng xuyên suốt vẫn là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng. Chính vì vậy, phần lớn các nguồn lực đã đầu tư cho công nghiệp nặng, tuy nhiên năng suất lao động lại thấp, sản phẩm công nghiệp nặng sản xuất ra ứ đọng nhiều vì không phù hợp với nhu cầu của xã hội, xã hội lại thiếu hàng nông nghiệp và công nghiệp nhẹ. Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm xã hội thời kỳ 1976 – 1980 chỉ đạt 1,4%/năm, trong khi đó dân số tăng 2,24%/năm làm cho mức sống của nhân dân giảm sút.

Đứng trước tình hình đó, Đại hội lần thứ V của Đảng (03/1982) đã tiến hành điều chỉnh lại chủ trương về cơ cấu ngành kinh tế đó là “tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, ra sức đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng quan trọng” (ĐCSVN, 1982, trang 62 – 63). Tuy đây là chủ trương đúng đắn, nhưng việc sửa chữa lại cơ cấu ngành kinh tế trong những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ XX được đánh giá là chưa đạt yêu cầu.

Đến Đại hội lần thứ VI của Đảng (12/1986), Đảng đã đưa ra chủ trương “trước mắt là trong kế hoạch 5 năm 1986 – 1990, phải thật sự tập trung sức người, sức của vào việc thực hiện cho được ba chương trình mục tiêu về lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu” (ĐCSVN, 1987, trang 47).

Đại hội lần thứ VII của Đảng (06/1991) đã nhận định rằng cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội vẫn chưa chấm dứt, vì vậy đã đưa ra chủ trương “phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế xã hội” (ĐCSVN, 1991, trang 63).

Đại hội lần thứ VIII của Đảng (06/1996) nhận định nước ta đã thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội và bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Đại hội đề ra chủ trương là trong những năm còn lại của thập niên 90 của thế kỷ XX phải “đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn; phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản; phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng trọng yếu và hết sức cấp thiết, có điều kiện về vốn, công nghệ, thị trường, phát huy tác dụng nhanh và có hiệu quả cao. Mở rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ” (ĐCSVN, 1996, trang 86).

Đại hội lần thứ IX (04/2001), Đại hội lần thứ X (04/2006), Đại hội lần thứ XI (01/2011) và Đại hội lần thứ XII (01/2016) của Đảng đều đưa ra chủ trương tiếp  tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng CNH, HĐH.

Như vậy, theo thời gian, quan điểm của Đảng về cơ cấu ngành kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình CNH ở nước ta đã có sự thay đổi rất to lớn và căn bản. Cái trục xuyên suốt của quá trình ấy là ở chỗ xoay xở để hiểu ra nền kinh tế nước ta hiện đang nằm ở đâu trong nấc thang của quá trình phát triển kinh tế và những nhân tố chi phối động thái của sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Bằng kinh nghiệm của chính mình và thế giới, ngày nay, chúng ta đã hiểu rõ ràng hơn những nhân tố ràng buộc không thể nào bỏ qua nếu muốn chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế từ khu vực nông nghiệp truyền thống sang khu vực công nghiệp hiện đại trong quá trình CNH.