Quan điểm di chuyển lao động kỹ năng của Việt Nam trong ASEAN

Trên cơ sở các học thuyết về vốn con người, di chuyển lao động, thuyết hội nhập và phát triẻn, trong điều kiện kinh tế – xã hội của Việt Nam, với đặc điểm nhân khẩu học với nguồn cung lao động dồi dào, việc lao động có kỹ năng di chuyển sẽ tiếp tục diễn ra trong thời gian tới, nhất là trong Cộng đồng ASEAN khi cơ hội đầu tư, thương mại và dịch vụ tiếp tục được mở rộng. Di chuyển lao động có kỹ năng trong ASEAN cũng đang hướng tới những thay đổi tích cực thông qua thúc đẩy thực hiện có hiệu quả các MRAs đã ký và xem xét khả năng mở rộng MRAs/MRSs trong những ngành nghề có nhu cầu cao. Đây là điều kiện thuận lợi và đòi hỏi Việt Nam phải có những quan điểm, định hướng và chiến lược phù hợp để tận dụng các cơ hội di chuyển do ASEAN mang lại.

Để đảm bảo di chuyển lao động có kỹ năng của Việt Nam trong ASEAN được hiệu quả, mang lại lợi ích thiết thực cho quốc gia và bản thân người lao động di chuyển, từ kết quả phân tích di chuyển lao động có kỹ năng trong ASEAN và thực trạng của lao động kỹ năng của Việt Nam, xuất phát từ định hướng của Đảng – Nhà nước về thúc đẩy việc làm ở nước ngoài của lao động có kỹ năng của Việt Nam cũng như từ kinh nghiệm của các nước (Phi-líp-pin và Băng-la-đét) đã được đúc kết, Luận án đề xuất các quan điểm di chuyển lao động kỹ năng của Việt Nam:

  • Tham gia vào di chuyển lao động có kỹ năng trong ASEAN của Việt Nam trước hết cần gắn với quá trình chuyển đổi mạnh mẽ và toàn diện mô hình tăng trưởng từ chiều rộng (chủ yếu dựa vào việc gia tăng đầu tư, khai thác lợi thế về tài nguyên, nhân công giá rẻ) sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu (với động lực chính là việc tăng năng suất lao động, hiệu quả sản xuất, tính cạnh tranh của các ngành kinh tế) trên nền tảng tri thức, CMCN 0.

Nhu cầu về lao động có trình độ và kỹ năng cao cũng là một yêu cầu tất yếu để đáp ứng những điều chỉnh có tính chiến lược của đất nước trong giai đoạn hiện nay.

. Mục tiêu trở thành nhà cung cấp lao động kỹ năng cho thị trường lao động khu vực, mà trước hết là tập trung vào một số ngành ta có thế mạnh, do vậy phải gắn với mục tiêu giải quyết các vấn đề của thị trường lao động trong nước, tạo điều kiện cho nâng cao năng lực cạnh tranh và nguồn lực lao động được sử dụng hiệu quả hơn. Điều này góp phần quan trọng vào cải cách nền kinh tế vĩ mô gắn liền với cải cách thể chế và nâng cao tính chủ động của Việt Nam trong quá trình hội nhập. Sự tham gia của Việt Nam vào di chuyển lao động kỹ năng trong ASEAN cần được hiểu theo nghĩa rộng, bao hàm cả việc kết nối thể chế (bao gồm cả đầu tư, thương mại và dịch vụ), kết nối cơ sở hạ tầng, kết nối con người, kết nối số và do vậy gồm cả “di chuyển lao động kỹ năng tại chỗ” theo hàm nghĩa tham gia hiệu quả vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, nhất là trong điều kiện ngày càng phát triển và ứng dụng nhanh chóng của các công nghệ hiện đại từ cuộc CMCN 4.0.

  • Cần có những chính sách hợp lý hiệu quả để ứng xử thông minh với t trạng “chảy máu chất xám” (làm lãng phí chi phí đào tạo và nguồn vốn nhân lực chất lượng cao cho việc phát triển đất nước). Tuy nhiên, đây là thách thức song cũng đồng thời cũng là cơ hội lớn cho phát triển đất nước trong bối cảnh nhân tài ngày càng khan hiếm.

Thực tế đã cho thấy sự phát triển thần kỳ của các quốc gia châu Á (Đài Loan, Ấn Độ, Hàn Quốc) trong đó có sự đóng góp đáng kể của những chuyên gia mang tài năng, công nghệ và vốn tri thức quay trở về đóng góp cho quê hương sau nhiều năm học tập, nghiên cứu và sinh cơ lập nghiệp ở các nước phát triển. Các nhà kinh tế gọi hiện tượng này là “brain gain”, tức sự quay trở về của chất xám hay thu thêm chất xám. Để giải quyết thỏa đáng vấn đề lợi – hại trong lựa chọn và tham gia di chuyển lao động kỹ năng trong ASEAN, cần phải có những chính sách đúng đắn và kịp thời của cả Chính phủ và khối doanh nghiệp, nhằm: tạo cơ hội việc làm tốt cho người lao động; giảm thiểu những tổn thất do “chảy máu chất xám” gây ra; thúc đẩy lan tỏa những lợi ích do di chuyển lao động kỹ năng mang lại, đó là lợi ích về kinh tế, tri thức và công nghệ cũng như cải thiện tính cạnh tranh của lực lượng lao động và sự linh hoạt trên thị trường lao động.Mở rộng đầu tư cùng thu hút chuyên gia của khu vực, tạo môi trường cạnh tranh của lao động kỹ năng sẽ giúp dần dần tăng khả năng cạnh tranh của nguồn nhân lực trong nước. Với việc thúc đẩy nâng cao năng suất lao động và chất lượng nguồn nhân lực quốc gia, Việt Nam sẽ có một đội ngũ lao động lành nghề, có trình độ ngoại ngữ, có tác phong công nghiệp đáp ứng nhu cầu lao động trong nước và khu vực. Có thể đánh giá, những lợi ích thu được trong tham gia di chuyển lao động kỹ năng ASEAN là lâu dài và có ý nghĩa chiến lược đối với Việt Nam, đồng thời góp phần vào tạo ra một cộng đồng với sức mạnh liên kết để cạnh tranh và đạt được năng suất lao động cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Xác định và thực hiện một số mục tiêu và lợi ích cụ thể của tham gia di chuyển lao động kỹ năng trong ASEAN, bao gồm:

  • Về kinh tế: tạo thuận lợi cho di chuyển lao động thông qua việc cấp visa và giấy phép việc làm cho doanh nghiệp và các lao động có kỹ năng; công nhận trình độ chuyên môn trên cơ sở thực hiện và phát triển MRAs cũng như mở rộng khả năng hợp tác, công nhận về kỹ năng nghề trong những ngành nghề có nhu cầu cao của khu vực trong thời gian tới; phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực dịch vụ và một số ngành nghề mới cần cho tái cơ cấu nền kinh tế; nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực cốt lõi trong các dịch vụ ưu tiên; tăng cường năng lực quản lý thị trường lao động, thúc đẩy hợp tác song phương và khu vực về dự báo cung – cầu lao động, công nhận lẫn nhau và hợp tác giáo dục đào tạo theo nhu cầu nước đến trong những ngành nghề có nhu cầu kỹ năng cao;
  • Về xã hội: tăng cường chất lượng nguồn nhân lực, phát triển thị trường lao động, tạo việc làm cho xã hội theo hướng bền vững; thúc đẩy và bảo vệ quyền cho người lao động di cư; tăng cường các hoạt động tư pháp với vấn đề buôn người và bảo vệ các nạn nhân của buôn bán người.
  • Chủ động trong việc di chuyển lao động có kỹ năng trong khối kinh tế khu vực thông qua việc nâng cao chất lượng hệ thống giáo dục và đào tạo nghề, nâng cao sức cạnh tranh cho người lao động để họ có thể tự di chuyển.
  • Hệ thống giáo dục đào tạo và giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam cần trang bị cho những công dân Việt Nam trở thành công dân ASEAN với những kiến thức và kỹ năng phục vụ nền kinh tế hiện đại phục vụ cho tăng trưởng, cạnh tranh và bình đẳng. Nhà nước Việt Nam cần tập trung đầu tư vào hệ thống giáo dục đào tạo và phát triển nguồn nhân lực để chuẩn bị cho người lao động có được trình độ phù hợp và bắt kịp với các tiêu chuẩn chung của khu vực ASEAN và thế giới. Điều này đòi hỏi sự chuyển biến căn bản từ phương pháp giáo dục, giáo trình và chuyển biến trong cách truyền tải, cách dạy và học, chú trọng phát triển các thế mạnh của từng cá nhân, đào tạo khả năng ngoại ngữ, các kỹ năng cứng và mềm để xây dựng khả năng thích nghi của con người trước những thay đổi như vũ bão của khoa học và công nghệ và thế giới việc làm. Những chính sách phù hợp nhằm tăng cường tính cạnh tranh cho nguồn nhân lực của Việt Nam thông qua cải cách và nâng cao chất lượng hệ thống giáo dục đào tạo, ban hành chỉ dẫn thực hiện Khung trình độ quốc gia, kiểm định kỹ năng theo các tiêu chuẩn khu vực, liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp, và áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong đào tạo có ý nghĩa quyết định.
  • Cần tiếp tục khẳng định và thừa nhận vai trò của di chuyển lao động, đặc biệt là lao động có kỹ năng, đối với nền kinh tế và tôn trọng quyền được tự do di chuyển của người lao động với bối cảnh hội nhập sâu rộng như hiện

Phải xác di chuyển lao động có kỹ năng là giải pháp chiến lược giúp Việt Nam nâng cao được năng lực cạnh tranh, đi tắt đón đầu, thu hút được nguồn lực tài chính và nguồn lực kỹ thuật thông qua tận dụng chất xám của người lao động quay trở về và phục vụ cho phát triển đất nước. Di chuyển học tập và lao động cũng chính là quyền và lợi ích chính đáng của người dân song cũng là lợi ích cho bản thân nước phái cử và tiếp nhận. Đây là điều không tránh khỏi khi Việt Nam hội nhập ngày càng sâu vào khu vực và thế giới. Vì vậy, Chính phủ cần có những những chính sách và cơ chế quản lý phù hợp đối với từng dòng di chuyển lao động, gắn các chính sách về di chuyển lao động với các chính sách phát triển vùng/địa phương hoặc các chính sách phát triển kinh tế của quốc gia.