Quan điểm và nguyên tắc hoàn thiện chính sách kinh tế của Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh thời kỳ đến năm 2025

Các chính sách kinh tế hỗ trợ Doanh nghiệp của Hải Phòng từ năm 2005-2017, về nhiều mặt đã đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp, góp phần tích cực vào việc phát triển cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp, kinh tế thành phố tăng trưởng cao, tạo nhiều việc làm và góp phần quan trọng nâng cao mức sống nhân dân. Tuy nhiên, cũng có những vấn đề nhận thức, tư duy và chính sách kinh tế không còn phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế trong tình hình mới.Những chính sách đã phát huy tác dụng trong quá khứ không có nghĩa là sẽ tiếp tục phát huy tác dụng trong tương lai.Thay đổi cách tiếp cận trong chính sách không chỉ là thay đổi chi tiết, nội dung của các chính sách mà phải xuất phát từ quan điểm, cách nhìn mới – những quan điểm sẽ định hướng, chỉ đạo và chi phối việc xây dựng các chính sách cụ thể và đưa chúng vào triển khai thực hiện một cách có hiệu lực, hiệu quả.

Theo cơ sở nghiên cưu lý luận, phân tích thực trạng cũng như bối cảnh mới và dự báo tương lai, tác giả đề xuất một số quan điểm hoàn thiện CSKT của Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao NLCT. Cụ thể như sau:

  • Cần phải có sự đổi mới mạnh mẽ, thay đổi cả tư duy lẫn cách hành xử với doanh nghiệp. Với quyết tâm cao, để “cởi trói” cho doanh nghiệp với tư duy doanh nghiệp, kinh tế tư nhân là động lực quan trọng phát triển đất nước. Coi sự phát triển và thành công của doanh nghiệp chính là sự thành công và phát triển của thành phố. Chính quyền” kiến tạo”, chính quyền luôn đồng hành cùng doanh nghiệp.
  • Không phân biệt loại hình, thành phần kinh tế trong cơ hội tiếp cận các nguồn lực như vốn, tài nguyên, đất đai…và đầu tư kinh doanh. Nhà nước đảm bảo các doanh nghiệp bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế. Tạo dựng môi trường thuận lợi hỗ trợ DN khởi nghiệp; DN đổi mới sáng tạo; bảo đảm quyền kinh doanh, quyền bình đẳng tiếp cận nguồn lực và cơ hội kinh doanh của DN bằng nhiều chính sách thiết thực, hiệu quả.
  • Các chính sách hỗ trợ phải nhằm tạo điều kiện cho các DN khởi nghiệp, phát triển và nâng cao NLCT, đúng với thẩm quyền của địa phương, không sao chép, không trái với những quy định hiện hành của Luật pháp. Việc hỗ trợ phải đi vào thực chất thông qua các giải pháp về tài chính như giảm lãi suất cho vay, hay giảm thuế sẽ góp phần giảm chi phí cho doanh nghiệp. Điều quan trọng nhất là các CSKT hỗ trợ của Nhà nước nên hướng theo nhu cầu, theo mong muốn của từng nhóm đối tượng doanh nghiệp. Hỗ trợ nhóm doanh nghiệp (không chỉ là doanh nghiệp nhỏ và vừa) có hoạt động đổi mới sáng tạo, có tiềm năng phát triển, nâng cao giá trị gia tăng, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước và thành phố.
  • Các chính sách ban hành phải đảm bảo tính khoa học, pháp lý, chặt chẽ, logic, thống nhất, công khai, dễ thực hiện; phù hợp với nguồn lực (đặc biệt nguồn lực về tài chính) để đảm bảo tính khả thi, đảm bảo chính sách đi vào cuộc sống và mang lại hiệu quả rõ rệt, có trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải.
  • Các CSKT ban hành không vi phạm, mâu thuẫn, chồng chéo với các cam kết quy định trong hội nhập quốc tế cũng như các quy định của kinh tế thị trường, Luật và các quy định của Chính phủ, không để lợi ích “nhóm”, cơ chế “xin-cho”, thiếu minh bạch trong xây dựng và quyết định và thực hiện chính sách.
  • Với khối doanh nghiệp nhỏ và vừa cần có cơ chế, chính sách xuyên suốt, ổn định để có thể tự cạnh tranh bằng thực lực trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
  • Thiết lập đồng bộ các chính sách, chương trình hỗ trợ trên cơ sở hỗ trợ có chọn lọc, phù hợp với mục tiêu và định hướng phát triển kinh tế của đất nước, lợi thế so sánh của từng ngành, từng cấp; đảm bảo các yêu cầu trước mắt cung như lâu dài và phát triển bền vững. Tận dụng cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0), việc thực hiện các cam kết hội nhập, mở của thị trường của chính phủ thực hiện các giải pháp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm.