Quan hệ giữa các đường TC, ATC và MC

Hãy xuất phát từ một đường TC như trên hình 4.4. Một điểm nhưđiểm A có hoành độ là q1 và tung độ là TC1. Điều đó có nghĩa là tổng chi phí để sản xuất một khối lượng hàng hóa q1 chính là TC1. Theo định nghĩa, tại mức sản lượng này, chi phí bình quân là TC1/q1. Mức chi phí này có thểđo bằng tgα, với α là góc hợp thành bởi tia OA và trục hoành. Nó cũng chính là độ dốc của tia OA. Khi sản lượng còn thấp (q<q*),  tốc độ gia tăng của tổng chi phí còn chậm hơn tốc độ gia tăng của sản lượng, thì chi phí bình quân cũng có xu hướng giảm dần. Điều này thể hiện ởđộ dốc của tia xuất phát từ O đến một điểm trên đường tổng chi phí giảm dần. Tuy nhiên, chi phí bình quân đạt đến giá trị thấp nhất khi tia nối từ gốc tọa độ O với một điểm tương ứng trên đường TC trở thành tiếp tuyến của TC (q lúc này bằng q*). Khi sản lượng tiếp tục tăng,(>q*), độ dốc của các tia nói trên tăng dần. Điều này phản ánh chi phí bình quân đang tăng dần và đường ATC có xu hướng đi lên. Vì MC tại một mức sản lượng q chính là giá trịđạo hàm của hàm TC tại mức sản lượng qđó, nên MC chính là độ dốc của đường TC tại mỗi điểm q. Độ dốc này cũng có thểđo bằng độ dốc hay hệ số góc của đường tiếp tuyến với đường cong TC tại mỗi điểm sản lượng q. Thoạt tiên, độ dốc của đường TC giảm dần nói cho chúng ta biết MCđang trong xu hướng giảm dần. Sau đó, đường TC lại càng ngày càng dốc hơn, và thông tin ấy tương ứng với việc MC rốt cục lại tăng lên. Đường chi phí biên MC cũng có quan hệ thú vị với đường chi phí bình quân AC. Quan hệ này có thể phát biểu như sau: Đường chi phí biên MC luôn luôn cắt đường chi phí bình quân ATC tại điểm tương ứng với mức ATC tối thiểu.   Giả sửđường chi phí biên MC và đường chi phí bình quân ATC cắt nhau tại điểm E tương ứng với một mức sản lượng dương qE nào đó. Chúng ta phải chứng minh rằng chi phí bình quân ATC tại mức sản lượng qE là thấp nhất. Thật vậy, khi sản lượng còn nhỏ, ứng với miền ATCđi xuống, đường chi phí biên MC phải nằm dưới đường chi phí bình quân ATC, hay tại mỗi điểm sản lượng chi phí biên phải nhỏ hơn chi phí bình quân tương ứng. Điều này thể hiện một quan hệ số học đơn giản giữa thước đo biên và thước đo trung bình: chính vì chi phí bổ sung thêm (chi phí biên) để sản xuất thêm một đơn vị sản lượng thấp hơn mức chi phí bình quân của mức sản lượng trước đó, việc sản xuất thêm đơn vị sản lượng này sẽ kéo mức chi phí bình quân chung xuống. Nói cách khác, chừng nào MC còn nhỏ hơn ATC, việc gia tăng sản lượng còn làm ATC giảm. Bằng lập luận tương tự, cũng có thể nói: chừng nào MC lớn hơn ATC (đường chi phí biên nằm trên đường ATC), việc gia tăng sản lượng sẽ kéo ATC tăng lên, và đường ATCđi dần lên. Tại điểm sản lượng qEMC bằng ATC, đường ATC ngừng đi xuống song cũng chưa đi lên. Do vậy, đó là mức sản lượng mà ATCđạt giá trị thấp nhất.


Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trên:
  • chi phí cận biên MC cắt?
  • MC và TC
  • mc/ac có ý nghĩa gì
  • mối quan hẹ giữa Mc và ac
  • đường atc
  • đường MC ATC AVC
  • ,