Quỹ bảo hiểm xã hội và quản lý quỹ bảo hiểm xã hội

 

1.  Nguồn tài chính hình thành quỹ bảo hiểm xã hội

Quỹ bảo hiểm xã hội là một loại quỹ tiền tệ tập trung được dồn tích dần dần từ sự đóng góp của các bên tham gia quan hệ bảo hiểm xã hội, được dùng để chi cho các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật.

Trong nền kinh tế hàng hóa, trách nhiệm tham gia đóng góp bảo hiểm xã hội dựa trên mối quan hệ lao động. sự đóng góp được chia cho cả người lao động và người sử dụng lao động. Việc tham gia bảo hiểm xã hội không phải là sự phân chia rủi ro như tham gia bảo hiểm thương mại mà là vấn đề lợi ích của cả hai phía. Đối với người sử dụng lao động thì việc đóng góp một phần bảo hiểm xã hội sẽ tránh được thiệt hại lớn về kinh tế khi xảy ra rủi ro đối với người lao động. Còn người lao động khi tham gia đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội cho mình là thực hiện nghĩa vụ trực tiếp trước những rủi ro xảy ra đối với bản thân. Do vậy, thực chất của mối quan hệ giữa hai chủ thể trong quan hệ bảo hiểm xã hội là mối quan hệ về lợi ích.

Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành từ các nguồn sau đây:

a)       Người sử dụng lao động đóng bằng 15% so với tổng quỹ tiền lương;

b)       Người lao động đóng bằng 5% tiền lương;

c)       Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm để bảo đảm thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội đối với người lao động; d) Tiền sinh lời của quỹ;

đ) Các nguồn khác.

2.  Quản lý quỹ bảo hiểm xã hội

Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý thống nhất, dân chủ và công khai theo chế độ tài chính của Nhà nước, hạch toán độc lập và được Nhà nước bảo hộ. Quỹ bảo hiểm xã hội được thực hiện các biện pháp để bảo tồn giá trị và tăng trưởng theo quy định của Chính phủ.

Quỹ bảo hiểm xã hội còn được hiểu dưới nghĩa là một tổ chức, trong đó gồm các thành viên là các bên tham gia bảo hiểm xã hội lập ra để quản lý và điều hành việc thu nộp và chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội. Với nghĩa này, Quỹ có Hội đồng quản trị để quản lý quỹ bảo hiểm xã hội được thu nộp từ sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và của ngân sách Nhà nước (đóng góp và tài trợ).

Việc quản lý quỹ bảo hiểm xã hội gồm hai mặt: quản lý Nhà nước về bảo hiểm xã hội và quản lý sự nghiệp bảo hiểm xã hội. Hai mặt quản lý này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng lại có tính chất khác nhau và do các cơ quan khác nhau đảm nhận.

Việc quản lý Nhà nước về bảo hiểm xã hội do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, cơ quan của Chính phủ đảm nhận và có những nhiệm vụ, quyền hạn sau : xây dựng và trình ban hành pháp luật về bảo hiểm xã hội; ban hành các văn bản pháp qui về bảo hiểm xã hội thuộc thẩm quyền; hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện bảo hiểm xã hội. Vụ bảo hiểm xã hội là vụ chức năng giúp Bộ Lao động – thương binh và Xã hội thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về bảo hiểm xã hội.

Việc quản lý sự nghiệp bảo hiểm xã hội do Bảo hiểm xã hội Việt Nam, đơn vị sự nghiệp thuộc Chính phủ, quản lý và thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội; thực hiện các chế độ, chính sách về bảo hiểm xã hội.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam là một tổ chức có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập và được Nhà nước bảo hộ. Bảo hiểm xã hội Việt Nam đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ, sự quản lý Nhà nước của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan, sự giám sát của tổ chức công đoàn.

Từ kinh nghiệm của các nước, Công ước số 102 năm 1952 đã yêu cầu trong trường hợp chính phủ của một nước tổ chức cơ quan bảo hiểm xã hội riêng, không thuộc một bộ ngành nào thì Hội đồng quản trị quỹ bảo hiểm xã hội trung ương nói chung bao gồm đại diện của những người lao động và của những người sử dụng lao động bên cạnh các quan chức của các cơ quan Nhà nước hữu quan. Đại diện người lao động và người sử dụng lao động có thể được bầu hoặc cử từ các tổ chức nghiệp đoàn (công đoàn và giới chủ), hoặc có thể Bộ trưởng phụ trách về bảo hiểm xã hội bổ nhiệm sau khi tham khảo ý kiến những người sử dụng lao động và công đoàn. Còn ở các địa phương, các cơ quan bảo hiểm xã hội (phòng) phụ trách các việc như : đăng ký những người đóng bảo hiểm xã hội và những người được bảo hiểm; thu phí bảo hiểm xã hội; chi trả bảo hiểm xã hội theo các chế độ quy định.

Ở Việt Nam, ta không gọi quỹ bảo hiểm xã hội mà chỉ gọi là Bảo hiểm xã hội,  tổ chức thành các cấp gồm: bảo hiểm xã hội Việt Nam, bảo hiểm xã hội cấp tỉnh, và bảo hiểm xã hội cấp huyện.

Cơ quan quản lý cao nhất của bảo hiểm xã hội là Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội Việt Nam, có nhiệm vu: chỉ đạo và giám sát, kiểm tra việc thu chi, quản lý quỹ; quyết định các biện pháp để bảo tồn giá trị và tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội; thẩm tra quyết toán và thông qua dự toán hằng năm; kiến nghị với Chính phủ và các cơ quan Nhà nước có liên quan bổ sung, sửa đổi các chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội; giải quyết các khiếu nại của người tham gia bảo hiểm xã hội; đề xuất việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các thành viên Ban lãnh đạo Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Thành viên của Hội đồng quản lý gồm đại diện có thẩm quyền của Bộ Lao động – thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Tổng giám đốc bảo hiểm xã hội Việt Nam. Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội Việt Nam có chủ tịch, một phó chủ tịch và các thành viên do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam do Tổng giám đốc trực tiếp quản lý và điều hành theo chế độ thủ trưởng, được tổ chức thành hệ thống dọc từ trung ương đến địa phương như đã đề cập ở trên.