Quy chế ưu đãi GSP của EU áp dụng cho các nước nói chung và cho Việt Nam nói riêng trong từng thời kỳ

Đánh giá bài viết

 

Để trợ giúp cho hàng hóa của các nước đang phát triển xuất khẩu vào thị trường EU, từ năm 1971, Liên hiệp Châu âu (EU) đã áp dụng Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) đối với một số chủng loại sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp của các nước có tên trong danh sách của Quy chế.

Việc một nước dành cho một nước khác GSP không nhất thiết phải dựa trên cơ sở Hiệp định thương mại hai bên hoặc đa biên. Nhật bản đã dành cho một số nhóm hàng của Việt nam hưởng GSP từ khi hai bên chưa có Hiệp định thương mại và chưa dành cho nhau đối xử Tối huệ quốc. EU cho Việt nam hưởng GSP từ trước khi hai bên ký Hiệp định thương mại vào năm 1995.

Hội đồng Châu âu đã lần lượt thông qua các quy chế áp dụng GSP cho từng thời kỳ như sau:

< 1971 – 1980
< 1981 – 1990
<1991 – 1994
<1995 – 2004:

Thời kỳ 10 năm này được chia ra làm nhiều giai đoạn áp dụng:

< 1995-1998
< 1999-2001
< 2001-2004

So với ưu đãi của các nước khác dành ưu đãi cho các nước đang phát triển, mức ưu đãi của EU vào loại thấp nhất. Có lẽ vì thế đã tồn tại trong Hệ thống GSP của EU quy định khuyến khích tăng thêm mức ưu đãi 10%, 20%, 25% đối với hàng nông sản và 15%, 25% và 35% đối với hàng công nghệ phẩm. Theo chế độ ưu đãi GSP của EU bắt đầu có hiệu lực từ 01/07/1999 thì những trường hợp sau sẽ được ưu đãi thêm:

–  Bảo vệ quyền của người lao động, nước hưởng GSP cần chứng minh trong các văn bản pháp quy của mình có các quy định về áp dụng các tiêu chuẩn của các Công ước 80; 98 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về việc áp dụng các nguyên tắc về quyền tổ chức, đàm phán tập thể và tuổi lao động tối thiểu. 

–   Bảo vệ môi trường: Các văn bản pháp quy của nước hưởng GSP phải có các quy định áp dụng các tiêu chuẩn của OIBT về bảo vệ môi trường

Các quy tắc về xuất xứ, EU cũng quy định rất rõ các tiêu chí chính xác để

xác định xuất xứ hưởng GSP:

–  Sản phẩm hoàn toàn được sản xuất tại lãnh thổ nước hưởng GSP:

Khoáng sản, động thực vật, thủy sản đánh bắt trong lãnh hải và các hàng hóa sản xuất từ các sản phẩm đó.

–  Sản phẩm có thành phần nhập khẩu:

Nói chung các nước dành GSP đều qui định hàm lượng trị giá sản phẩm sáng tạo tại nước hưởng GSP (tính theo trị giá xuất xưởng). Hàm lượng này thay đổi tùy theo mặt hàng và mỗi nước quy định một khác. Song phần lớn các nước đều yêu cầu phần trị giá sáng tạo tại nước hưởng GSP phải đạt 60% tổng trị giá hàng liên quan.

EU qui định cụ thể tỷ lệ trị giá và công đoạn gia công đối với các nhóm hàng:

–  Sản phẩm chất dẻo không dưới 50%.

–  Điều hoà nhiệt độ, tủ lạnh không dưới 40%.

–  Tượng, đồ trang trí làm từ kim loại  không dưới 30%.

–   Quần áo: chia làm hai công đoạn gia công đó là nhập sợi để dệt và may quần áo (có nhiều mặt hàng chỉ cần một công đoạn gia công). Ví dụ vở học sinh sản xuất tại nước hưởng GSP từ giấy nhập khẩu cũng được hưởng GSP.

–   Giày dép chỉ được hưởng GSP nếu các bộ phận (mũi, đế..) ở dạng rời sản xuất ở trong nước hưởng GSP hoặc nhập khẩu.

Đối với một số nước chậm phát triển thì EU còn quy định giảm nhẹ tiêu chuẩn cho một số mặt hàng được giảm bớt số công đoạn gia công. Ví dụ hàng may mặc của Lào, Campuchia, Băng la đét chỉ cần một công đoạn là quần áo may tại các nước đó bằng vải nhập khẩu cũng được hưởng GSP. Việt nam không được hưởng tiêu chuẩn này.

Áp dụng quy tắc “ xuất xứ cộng gộp ” Việt nam cũng được hưởng GSP đối với một số mặt hàng mà thành phần xuất xứ của Việt nam chiếm 20% trị giá, còn lại là nhập khẩu của các nước khác trong khu vực mà những nước này cũng được hưởng GSP. Ví dụ Việt nam xuất khẩu sang EU một mặt hàng trong đó thành phần xuất xứ của Việt nam chiếm 20% trị giá, còn lại 15% nhập khẩu từ Indonesia, 10% của Philippine, 15% của Myanmar. Xuất xứ cộng gộp của hàng Việt nam là 20%+15%+10%+15% = 60%. Mặt hàng này lẽ ra không được hưởng GSP vì hàm lượng trị giá Việt nam chưa được 50% nhưng nhờ cộng gộp đã đủ điều kiện hưởng GSP.