Quy mô quốc tế của công ty nước ngoài

Quy mô quốc tế của công ty nước ngoài
Đánh giá bài viết

Theo C. Croué, quy mô quốc tế (International Dimension) của công ty nước ngoài được phát triển trên cả hai mặt: quy mô phát triển xuất khẩu và trình độ phát triển Marketing quốc tế.

1. Quy mô phát triển xuất khẩu và quy mô thị trường nước ngoài

* Tỷ trọng (%) xuất khẩu trên tổng doanh số (%)

Đây là tiêu thức kinh tế cụ thể nhất, phản ánh quy mô quốc tế của công ty nước ngoài ngay từ khi mở cửa quốc tế phát triển cho đến pha toàn cầu hoá hiện nay. Như trên đã nói, nếu tiêu thức này chỉ đạt dưới 5% ở pha 1 thì đến pha 4 đã vượt mức 80%.
Trên thực tế, quy mô kinh doanh xuất khẩu được tăng trưởng rất nhanh cả về hiện vật (số lượng và chủng loại sản phẩm) lẫn giá trị. Doanh thu xuất khẩu (ER) ở đây bao gồm cả doanh thu từ đầu tư vốn và sản xuất ở nước ngoài. Bởi lẽ, ER vẫn là kết quả của xuất khẩu vốn, xuất khẩu công nghệ và xuất khẩu lao động ra nước ngoài.

Điều đáng nói hơn, quy mô quốc tế có xu hướng tăng nhanh cả về tuyệt đối và tương đối, trong khi đó quy mô trong nước của công ty lại giảm về tương đối, thậm chí cả về tuyệt đối. Hơn thế nữa, có công ty đã chuyển toàn bộ hoạt động kinh doanh ra nước ngoài và nhập khẩu trở lại một phần sản phẩm để thoả mãn nhu cầu trong nước. Hãng Sony (Nhật Bản) là một trong những công ty đã đi đầu trong xu thế đó vì đã không còn sản xuất trong nước từ sau năm 2000, bởi lẽ hiệu quả kinh doanh quốc tế cao hơn (chi phí sản xuất thấp, lợi nhuận cao), hiệu quả về môi trường sinh thái được đảm bảo, được chính phủ khuyến khích.

Cùng với tiến trình tăng trưởng về doanh thu, lợi nhuận và thị phần, quy mô quốc tế của công ty còn không ngừng mở rộng về các tiêu thức quan trọng khác như giá trị tài sản ở nước ngoài, số nhân viên làm việc ở nước ngoài. Chúng ta sẽ đề cập tiếp ở những nội dung sau.

* Số lượng thị trường nước ngoài

Quá trình phát triển quốc tế từ pha 1 đến pha 4 thực chất là quá trình mở rộng quy mô công ty về số lượng thị trường mục tiêu nước ngoài. Kết quả mở rộng thị trường từ nội địa ra nước ngoài là cơ sở đảm bảo cho doanh thu xuất khẩu tăng mạnh.
Nếu ở pha 1, mở cửa quốc tế cho xuất khẩu còn nhỏ lẻ ra một vài nước láng giềng (ban đầu là thương mại biên giới), thì đến pha 4 hiện nay, quy mô hoạt động ngoài nước của nhiều doanh nghiệp đang bao trùm toàn cầu. Với chiến lược sản phẩm đủ mạnh cả về số lượng và chất lượng theo các hướng đa dạng hoá và tiêu chuẩn hoá, nhiều hãng lớn như (Coca Cola, P&G, Microsoft, Toyota…) đang có thể đáp ứng nhu cầu của 4 – 6 tỷ người tiêu dùng trên toàn cầu.

Với số lượng thị trường không ngừng phát triển cả bề rộng và bề sâu, sản phẩm của các công ty hàng đầu được tiêu thụ mở rộng trên quy mô hàng trăm nước và lãnh thổ trên toàn cầu. Quy mô thị trường về mặt địa lý đảm bảo cho việc mở rộng doanh số của những hãng lớn. Năm 2005, hãng lớn nhất như Wal Mart (Mỹ) đã vượt 250 tỷ USD (trong khi GDP của Việt Nam với trên 80 triệu dân mới đạt được hơn 40 tỷ USD).
Số lượng thị trường nước ngoài và quy mô thị trường toàn cầu luôn luôn là mục tiêu sống còn của các công ty xuyên quốc gia (TNCs) nhằm khai thác tối ưu sức mạnh của khoa học công nghệ hiện đại, điển hình là công nghệ Internet toàn cầu. Toàn cầu hoá, trước hết là toàn cầu hoá kinh tế mà cốt lõi là toàn cầu hoá thị trường, trong đó các TNCs là đội quân xung kích của tiến trình toàn cầu hoá [12].

2. Trình độ phát triển của Marketing quốc tế

Ngay từ pha 1, để tiến hành xuất khẩu ra nước ngoài và tăng nhanh doanh thu xuất khẩu, công ty phải chuyển đổi kịp thời những nguyên lý cơ bản từ Marketing quốc gia sang Marketing quốc tế. Những kiến thức mới vể Marketing quốc tế là cơ sở phát triển quy mô quốc tế của công ty trong suốt quá trình mở rộng thị trường nước ngoài. Trên thực tế, những kiến thức về Marketing quốc tế là rất rộng so với Marketing quốc gia, nhưng trước hết cần phải chú ý:

– Kiến thức về nghiên cứu thị trường và phân đoạn thị trường (điển hình là khoa học nghiên cứu và dự báo thị trường toàn cầu)

– Kiến thức về kế hoạch hoá chiến lược marketing-mix quốc tế, như chiến lược sản phẩm quốc tế, chiến lược giá quốc tế, chiến lược phân phối quốc tế và yểm trợ quốc tế.

– Kiến thức về tổ chức công ty và thiết lập hệ thống thông tin marketing quốc tế (IMIS) trong quá trình hoạt động nhằm đảm bảo hiệu quả kinh doanh tối ưu trong môi trường quốc tế mở rộng và phức tạp với rất nhiều hứa hẹn nhưng cũng rất nhiều rủi ro…

Như vậy, quá trình phát triển của Marketing quốc tế đóng vai trò thúc đẩy nhanh chóng quy mô quốc tế của các công ty. Trong quá trình đó, có thể nhấn mạnh các giai đoạn tiêu biểu sau:

– Giai đoạn phát triển của lĩnh vực nghiên cứu – dự báo thị trường trong Marketing quốc tế, kể cả kỹ thuật phân đoạn thị trường và lựa chọn các thị trường mục tiêu nước ngoài (nội dung cụ thể sẽ được đề cập ở chương 2 và chương 3).

– Giai đoạn phát triển những kiến thức chuyên sâu về Marketing quốc tế. Điều cốt lõi ở đây là những kiến thức cơ bản về sản phẩm, cơ sở cho chiến lược thích ứng sản phẩm và tiêu chuẩn hoá sản phẩm nhằm thoả mãn tốt nhất nhu cầu trên thị trường toàn cầu (gọi chung là tri thức sản xuất).

– Giai đoạn phát triển những kiến thức xuất khẩu trong Marketing quốc tế, gồm các kỹ thuật xuất khẩu theo từng phương thức hay điều kiện giao hàng đến từng địa điểm khác nhau ở các nước nhập khẩu (gọi chung là tri thức giao nhận).

– Giai đoạn phát triển những kiến thức về hệ thống thương mại cũng như các loại kênh phân phối trong Marketing quốc tế (gọi chung là tri thức bán hàng). Bước tiến này thúc đẩy mạnh hơn nữa việc mở rộng quy mô của công ty, mở rộng doanh thu xuất khẩu và thị trường xuất khẩu, thông qua khả năng thoả mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng quốc tế.

– Giai đoạn phát triển những kiến thức về ứng xử với các cản trở từ phía chính phủ nước ngoài hay cạnh tranh quốc tế, hay từ phía người tiêu dùng. Bước đột phá này tạo thêm khả năng mở rộng quy mô của công ty do kết qủa thậm nhập và mở rộng hơn nữa các thị trường mục tiêu nược ngoài (gọi chung là tri thức về Marketing thực địa – Field Marketing). Do vậy, giai đoạn này còn gọi là giai đoạn Marketing thực địa.

– Giai đoạn chín muồi cơ sở lý luận về các định hướng phát triển quốc tế, theo đó, cần nhấn mạnh sự liên kết giữa khả năng sinh lợi từ thị trường và ngân sách marketing. Chung quy lại, định hướng phát triển đúng đắn sẽ tạo ra khả năng sinh lợi cao từ ngân sách trù định. Bước tiến về lý luận này đảm bảo cho quy mô của công ty không ngừng phát triển. Giai đoạn này còn gọi là giai đoạn chiến lược quốc tế và toàn cầu. Hai giai đoạn cuối diễn ra gắn liền với sự chuyên môn sâu của marketing và bán hàng.