Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo Hiến pháp 1992

 

Trên cơ sở Hiến pháp 1992, để giúp việc tìm hiểu các quyền và nghĩa vụ công dân thuận tiện hơn, chúng ta có thể phân loại các quyền và nghĩa vụ công dân thành các nhóm sau:

+ Các quyền và nghĩa vụ cơ bản về kinh tế – xã hội.

+ Các quyền và nghĩa vụ cơ bản về chính trị.

+ Các quyền và nghĩa vụ cơ bản về văn hóa.

+ Các quyền và nghĩa vụ cơ bản về tự do dân chủ và tự do cá nhân.

1 Các quyền và nghĩa vụ cơ bản về kinh tế – xã hội

Trong toàn bộ các quyền và nghĩa vụ công dân thì các quyền và nghĩa vụ trên lĩnh vực kinh tế- xã hội được xem là có tính chất nền tảng và mang ý nghĩa quyết định.

Hạt nhân của địa vị pháp lý của công dân trên lĩnh vực kinh tế ú- xã hội được tạo nên bởi quyền lao động. Việc thực hiện quyền lao động của công dân đến mức độ nào được coi là tiêu chuẩn để đánh giá bản chất tiến bộ của một chế độ nhà nước. Hiến pháp năm 1992 của Nhà nước ta quy định: ”lao động là quyền và nghĩa vụ của mọi công dân” (Điều 55). Để thực hiện quyền cơ bản này của công dân, Nhà nước và xã hội có kế hoạch để tạo ra càng nhiều công ăn việc làm cho người lao động. Nhà nước chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa (Điều 55).

Trên cơ sở đó tạo ra nhiều công ăn việc làm, giải quyết nhu cầu việc làm cho mọi đối tượng lao động.

Nội dung đầu tiên, cũng là nội dung quyết định của quyền lao động là công dân nhận được một việc làm, phù hợp với sức khoẻ và khả năng cá nhân của mình. Đồng thời, khi làm việc thì công nhân được hưởng lương theo chất lượng và số lượng công việc đã thực hiện, được bảo hiểm lao động và tạo điều kiện để không ngừng nâng cao tay nghề “Nhà nước ban hành chính sách, chế độ bảo hộ lao động . Nhà nước quy định thời  gian lao động , chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức nhà nước và những người làm công ăn lương, khuyến khích, khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm xã hội khác với người lao động “(Điều 66).

Đi đôi với quyền làm việc, công dân có nghĩa vụ tuân thủ kỷ luật lao động, lao động một cách nghiêm túc và thực hiện các quy tắc an toàn lao động. Nhà nước ta tạo công ăn việc làm cho công dân thì Nhà nước cũng đòi hỏi công dân thực hiện ”nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản của Nhà nước và lợi ích công cộng” (Điều 78).

Quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật (Điều 57) là một quyền hoàn toàn mới so với các Hiến pháp trước. Quyền này được qui định xuất phát từ chủ trương của Nhà nước ta thục hiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường. Trong cơ chế mới, Nhà nước khuyến khích mọi công dân làm giàu chính đáng, tạo điều kiện để giải phóng mọi sức lao động , phát triển lực lượng sản xuất. Cùng với việc thừa nhận sự bình đẳng trước pháp luật của mọi thành phần kinh tế (Điều 22).

Kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân được phép hoạt động trong các ngành nghề theo quy định của pháp luật. Để khuyến khích mọi công dân, ở mọi thành phần kinh tế, yên tâm với việc đầu tư phát triển sản xuất, Hiến pháp quy định công dân có quyền sở hữu về thu thập hợp pháp, của cải để dành, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác (Điều 58). Quyền sở hữu hợp pháp của công dân được Nhà nước bảo hộ. Cùng với quyền được tự do kinh doanh, Hiến pháp quy định công dân có nghĩa vụ đóng thuế và lao động công ích theo quy định của pháp luật (Điều 80).

Thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước ta, Hiến pháp quy định công dân có quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức khoẻ (Điều 61). Hiện nay, các hoạt động của ngành y cũng bị chi phối bởi sự khắc nghiệt của cơ chế thị trường. Nhưng trên tinh thần nhân đạo và coi con người là vốn quí nhất của xã hội, để mọi người với những hoàn cảnh khác nhau có được khả năng vật chất tối thiểu phục vụ cho việc bảo vệ sức khoẻ , Hiến pháp nêu rõ ” Công dân được hưởng chế độ bảo vệ sức khỏe. Nhà nước khoẻquy định chế độ viện phí, chế độ miễn, giảm viện phí” (Điều 61).

Hiến pháp quy định công dân có nghĩa vụ thực hiện các qui định về vệ sinh phòng bệnh và vệ sinh công cộng (Điều 61). Để ngăn chặn các tệ nạn xã hội và bảo vệ sức khoẻ toàn dân, Hiến pháp nghiêm cấm việc sản xuất, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc phiện và các chất ma tuý khác. Nhà nước quy định chế độ  bắt buộc cai nghiện và chữa các bệnh xã hội nguy hiểm.

Vấn đề nhà ở cũng là một trong những vấn đề được Nhà nước ta quan tâm đặc biệt. Trong điều kiện chúng ta còn quá nhiều khó khăn, Nhà nước chủ trương khuyến khích mọi công dân xây dựng nhà ở. Hiến pháp ghi nhận công dân có quyền xây dựng nhà ở theo qui hoạch và pháp luật (Điều 62).

Cùng với việc ghi nhận quyền bình đẳng nam nữ, Hiến pháp ghi nhận việc Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình (Điều 64). Chúng ta thực hiện chế độ hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.

Ngoài ra, Hiến pháp còn quy định về việc trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội bào vệ, chăm sóc và giáo dục (Điều 65). Thanh niên được gia đình, Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động và giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng về đạo đức, truyền thống dân tộc và ý thức công dân (Điều 66). Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước. Thương binh được tạo điều kiện phục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp với sức khoẻ và có đời sống ổn định. Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ (Điều 67).

2 Các quyền và nghĩa vụ cơ bản về chính trị

Các quyền và nghĩa vụ về chính trị thể hiện trước hết ở việc tham gia của các công dân vào hoạt động quản lý của Nhà nước. Đó cũng chính là hiện thân của sự tự do về chính trị, chiếm vị trí trung tâm trong các quyền và nghĩa vụ về chính trị là quyền của công dân tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 53). Công dân thực hiện quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội dưới nhiều hình thức: công dân có quyền bầu những người có tài, có đức vào các cơ quan đại biểu nhân dân (Quốc hội và Hội đồng nhân dân) hoặc được bầu vào các cơ quan này; tham gia thảo luận đóng góp ý kiến xây dựng Hiến pháp và pháp luật; đề bạt với các cơ quan Nhà nước và các tổ chức xã hội những vấn đề thuộc về lợi ích chung hoặc góp ý kiến xây dựng để các cơ quan, tổ chức này cải tiến hoạt động của mình nhằm đạt hiệu quả cao hơn; đóng góp các ý kiến về việc xây dựng và phát triển kinh tế , văn hóa, xã hội của nước nhà; tham gia hoạt động ở các  đơn vị cơ sở như cơ quan, xí nghiệp, khu dân cư; tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội…

Để bảo đảm thực hiện quyền lực nhân dân, Hiến pháp quy định “công dân phải trung thành với Tổ quốc”. Hiến pháp coi việc công dân phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất (Điều 76). Như vậy, nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc, bảo vệ Tổ quốc, hiểu theo nghĩa đầy đủ nhất, không chỉ là nghĩa vụ pháp lý, mà còn là nghĩa vụ mang tính đạo đức.

Một trong những quyền chính trị cực kỳ quan trọng của công dân là quyền bầu cử vào các cơ quan quyền lực Nhà nước. Theo Điều 54 Hiến pháp năm 1992 thì mọi công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử và Quốc hội, Hội đồng nhân dân.

Ơí  nước ta, việc bầu cử được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và kín (Điều 7). Chỉ những người mất trí (như người bị điên, không nhận thức được hành động của mình), những người bị Toà án nhân dân hoặc bị pháp luật tước quyền bầu cử mới không được  tham gia bấu cử.

Cùng với các quyền cơ bản trên, Hiến pháp còn quy định công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang hoặc bất cứ cá nhân nào (Điều 74). Đây là một quyền  rất quan trọng, bảo đảm cho công dân khả năng bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, đồng thời phát hiện ra những vi phạm trong hoạt động của các cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội, giúp cho việc chỉnh đốn, củng cố và cải tiến hoạt động của các cơ quan này. Cũng thông qua việc thực hiện quyền này, mọi công dân góp phần tích cực và chủ động vào các hoạt động quản lý Nhà nước và xã hội .

3 Các quyền và nghĩa vụ cơ bản về văn hóa giáo dục

Con người là nhân tố quyết định đối với sự phát triển của xã hội. Vì vậy, con người phải được giáo dục, phải được trau dồi kiến thức. Do đó, quyền học tập mà Hiến pháp quy định (Điều 59) là một quyền cơ bản cực kỳ quan trọng của công dân.

Một trong những tiêu chuẩn bắt buộc để đánh giá nền văn minh của một quốc gia là trình độ học vấn của các công dân thuộc quốc gia đó. Ngay từ khi thành lập chính quyền dân chủ nhân dân, Đảng và Nhà nước ta đã rất chú ý đến việc học tập để nâng cao dân trí. Tiêu diệt giặc dốt là một trong sáu nhiệm vụ cấp bách của cách mạng Việt Nam. Sự quan tâm của Nhà nước ta đến vấn đề giáo dục thể hiện rõ nét ở quy định quyền học tập của công dân ở cả bốn bản Hiến pháp. Hiến pháp năm 1992 còn khẳng định rõ ràng: ”Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân “ (Điều 59).

Cùng với quyền và nghĩa vụ học tập, Hiến pháp còn quy định công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hóa khác (Điều 60). Nhà nước tạo các điều kiện vật chất cần thiết để công dân có thể thực hiện quyền này, định ra các chính sách và biện pháp nhằm khuyến khích mọi công dân tham gia tích cực vào các hoạt động nghiên cứu khoa học kỹ thuật, văn hóa, văn nghệ…

Xác định thanh, thiếu niên và nhi đồng là chủ nhân tương lai của đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm đến việc bồi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ.

 4 Các quyền và nghĩa vụ cơ bản trên lĩnh vực tự do dân chủ và tự do cá nhân

Theo Hiến pháp năm 1992, công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền được hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật (Điều 69). Đây là những quyền rất quan trọng nhằm bảo đảm cho công dân có những điều kiện cần thiết để tham gia chủ động và tích cực vào các hoạt động của Nhà nước và xã hội .

Công dân có quyền tự do ngôn luận, nghĩa là quyền tự do phát biểu ý kiến, thể hiện quan điểm của mình về các vấn đề chung của xã hội. Quyền này có thể được thực hiện bằng cách phát biểu trực tiếp tại các cuộc họp, hoặc gởi văn bản đến các cơ quan có trách nhiệm và thẩm quyền. Quyền tự do ngôn luận còn được thực hiện thông qua việc thực hiện quyền tự do báo chí. Thông qua báo chí, công dân có quyền thể hiện quan điểm riêng của mình về các vấn đề, ủng hộ cái đúng, phê phán và phản đối cái sai, cái xấu, hoặc cùng nhau trao đổi tranh luận về một vấn đề gì đó để tìm ra lẽ phải. Cũng thông qua báo chí, công dân có thể góp ý kiến với các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội chủ nghĩa về những vấn đề cụ thể, nhằm cải tiến cách làm việc, cải tiến hình thức hoạt động, hay nhằm gíáo dục cán bộ, công nhân viên chức… để tăng thêm tính hiệu quả của công việc.

Quyền được thông tin là một quyền mới của công dân được Hiến pháp quy định. Nội dung quyền này gồm cả quyền truyền thông tin và nhận thông tin. Đây là một sự bổ sung rất quan trọng, rất kịp thời của Hiến pháp năm 1992.

Quyền tự do hội họp được mọi công dân thường xuyên sử dụng để thảo luận, bàn bạc góp ý kiến về các vấn đề chung của xã hội, của Nhà nước. Quyền hội họp còn được sử dụng  để thảo luận, giải quyết các công việc thuộc nội bộ một cơ quan Nhà nước, một tổ chức xã hội hay ở khu dân cư, gia đình.

Quyền lập hội cũng là một quyền cực kỳ quan trọng  của công dân. Đó là quyền tự do gia nhập các đoàn thể như Công đoàn, Đoàn thanh niên cộng sản, Hội liên hiệp phụ nữ… Vai trò của các  đoàn thể trong các sinh hoạt chính trị ngày càng lớn. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên được coi là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân (Điều 9). Vì vậy, quyền lập hội là một quyền không thể thiếu được của công dân.

Khẳng định quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông tin, quyền lập hội, hội họp của  công dân không có nghĩa là công dân sử dụng  các quyền  này thế nào cũng được. Công dân thực hiện các quyền trên để gây rối, phá hoại, chống lại độc lập tự do dân tộc, chống lại lợi ích chính đáng của nhân dân, xâm phạm lợi ích của Nhà nước điều bị nghiêm cấm và trừng trị theo pháp luật.

Hiến pháp quy định công dân có quyền tự do  tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào (Điều 70). Sự bổ sung của Hiến pháp đối với quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho thấy tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước ta. Tín ngưỡng tôn giáo là một nhu cầu cực kỳ quan trọng trong đời sống tinh thần của một bộ phận rất lớn trong  nhân dân, không chỉ ở nước ta mà trên toàn thế giới.

Theo Điều 71 Hiến pháp 1992, công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về  tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm. Không ai có thể bị bắt một cách trái pháp luật. Hiến pháp quy định rõ  và chặt chẽ  việc bắt và giam người. Trừ trường hợp phạm tội quả tang, việc bắt người phải có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân. Việc bắt và giam người không được tiến hành tùy tiện mà phải theo đúng quy định của pháp luật. đối với những người bị bắt hay bị giam, Hiến pháp nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của họ. Ưïc hiếp quần chúng, bắt giam người vô tội được coi là xâm phạm nghiêm trọng đến tự do thân thể của công dân và bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự.

Ngoài những quyền nêu trên, Hiến pháp năm 1992 còn quy định một loạt các quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân khác của  công dân. Đó là quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, quyền  được bảo đảm an toàn và  bí mật về thư tín, điện thoại, điện tín (Điều 73), quyền tự do đi lại và cư trú (Điều 68).

So với Hiến pháp năm 1980, những quy định của Hiến pháp năm 1992 về vấn đề quyền  và  nghĩa vụ cơ bản của công dân mang  tính dân chủ và hiện thực cao hơn. Nó thể hiện sự kết hợp hài hòa hơn, hợp lý hơn lợi ích chính đáng của mọi tầng lớp nhân dân khác nhau trong xã hội. Toàn bộ nội dung của chương này cho thấy sự nỗ lực và quyết tâm của Nhà nước ta nhằm xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa .


Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trên:
  • quyen va nghia vu co ban cua cong dan theo hien phap 1992
  • ,