Quyết toán chi NSĐP cho SNGD công lập

Quyết toán chi NSĐP cho SNGD công lập là khâu cuối cùng trong quy trình quản lý chi NSĐP. Mục đích của quyết toán chi NSĐP theo kiểu đầu vào là tổng kết đánh giá lại toàn bộ quá trình chi ngân sách theo các nhóm mục chi trong một năm ngân sách đã qua, cung cấp đầy đủ thông tin về quản lý điều hành chi NSĐP cho những người quan tâm như: Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Chính phủ, các nhà tài trợ, người dân…về đầu vào đã được sử dụng. Trong quản lý chi NSĐP theo kết quả thực hiện nhiệm vụ, các đơn vị SDNS, các cơ quan quản lý, kiểm toán thực hiện đánh giá lại kết quả thực hiện các mục tiêu của ngành gắn với ngân sách đã được phân bổ cho các đơn vị SDNS từ đầu năm. Đây là quá trình thẩm định một cách hệ thống và tương đối khách quan đối với quá trình lập, thực hiện và kết quả (đầu ra) của một dự án, chương trình, chính sách đang thực hiện hoặc đã hoàn thành [35].

Số liệu quyết toán và nội dung báo cáo quyết toán:

Trong quản lý chi NSĐP cho GDCL theo yếu tố đầu vào, số liệu trong báo cáo quyết toán ngân sách phải chính xác, trung thực, đầy đủ và so sánh với dự toán ngân sách; là số chi đã thực thanh toán hoặc đã được phép hạch toán chi theo quy định. Số liệu quyết toán phải được lập theo đúng các nội dung trong dự toán được giao và theo đúng Mục lục NSNN. Số liệu và báo cáo quyết toán trong quản lý chi NSĐP cho GDCL theo đầu vào được cơ quan tài chính hoặc cơ quan quản lý cấp trên thẩm định. Trách nhiệm giải trình của đơn vị sử dụng ngân sách là trách nhiệm giải trình hướng lên trên – giải trình với cơ quan tài chính, cơ quan quản lý cấp trên về việc tuân thủ các quy tắc, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu.

Trong quản lý chi NSĐP cho GDCL theo kết quả thực hiện nhiệm vụ, ngoài các số liệu đó còn phải tính toán, báo cáo số lượng đầu ra, chất lượng dịch vụ công giáo dục mà đơn vị cung cấp cho xã hội, so sánh với các kết quả đầu ra đã cam kết trong kế hoạch; chỉ tiêu ước tính trong các năm tới và các chỉ số đánh giá kết quả thực hiện. Đơn vị sử dụng ngân sách phải chịu trách nhiệm về các số liệu quyết toán, cơ quan tài chính, cơ quan quản lý cấp trên không thẩm định số liệu quyết toán tài chính mà chủ yếu thực hiện kiểm đếm đầu ra hay kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trách nhiệm giải trình của đơn vị sử dụng ngân sách là giải trình hướng xuống dưới – giải trình với khách hàng về kết quả cung cấp dịch vụ giáo dục. Chính vì vậy, trong quản lý chi NSĐP cho GDCL theo kết quả thực hiện nhiệm vụ, việc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ là rất cần thiết.

Đánh giá, quyết toán chi NSĐP cho GDCL: Trong quản lý chi NSĐP theo yếu tố đầu vào, cơ quan tài chính, cơ quan quản lý cấp trên khi quyết toán chi NSĐP cho GDCL đối với các đơn vị SDNS chủ yếu thực hiện kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chi tiêu theo đúng các nội dung dự toán được giao và sự phù hợp giữa số chi tại các đơn vị SDNS với tổng nguồn được thông báo; sự phù hợp giữa các khoản chi tiêu với tiêu chuẩn, chế độ, định mức chi tiêu. Trong khi đó, đánh giá thực hiện dự toán chi NSĐP cho sự nghiệp GDCL theo kết quả thực hiện nhiệm vụ dựa trên đánh giá tính hiệu quả và tính hiệu lực của các khoản chi NSĐP cho GDCL. Đây là quá trình phân tích để đưa ra những nhận định một cách hệ thống và khách quan về tính phù hợp, tính hiệu quả, hiệu lực của các chương trình, dự án ngành giáo dục, là cơ sở để cơ quan quản lý ngành phối hợp với cơ quan tài chính tham mưu cho chính quyền địa phương thực hiện những điều chỉnh phù hợp trong chiến lược, chương trình phát triển ngành và phân bổ nguồn lực thực hiện các chương trình, nhiệm vụ một cách phù hợp cũng như xây dựng dự toán cho năm ngân sách tiếp theo.

Việc đánh giá tính hiệu quả, hiệu lực của các khoản chi ngân sách cho GDCL được thực hiện thông qua phân tích các khía cạnh về số lượng, chất lượng đầu ra đạt được, chi phí cung cấp các đầu ra ngành giáo dục và tính kịp thời trong việc cung cấp các đầu ra. Trên cơ sở các đánh giá đó, cơ quan quản lý ngành giáo dục và cơ quan tài chính có cơ sở để tham mưu cho chính quyền địa phương những giải pháp thực hiện nhiệm vụ của ngành giáo dục trong năm tiếp theo, khuyến nghị các thiết kế, hình thành dự toán chi NSĐP cho GDCL trong năm ngân sách mới. Trong trung hạn, việc đánh giá những tác động của chi NSĐP cho GDCL đối với sự phát triển của nguồn nhân lực, phát triển KT-XH địa phương (đánh giá kết quả) sẽ là cơ sở (dữ liệu đầu vào) để xây dựng các dự án, chương trình mới và xây dựng dự toán chi NSĐP cho sự nghiệp giáo dục trong giai đoạn mới.

Thứ nhất, đánh giá hiệu quả chi NSĐP cho GDCL.

Bằng cách so sánh giữa đầu ra và đầu vào (nguồn lực, chi phí để có đầu ra đó) để đánh giá xem việc chi tiêu hiệu quả không, tức là đơn vị có “làm đúng cách” không. Đánh giá tính hiệu quả cần trả lời câu hỏi: với đầu ra như vậy, liệu có cách chi tiêu nào tiết kiệm hơn không?

Đối với ngành giáo dục, đầu ra thể hiện ở một số chỉ tiêu về số lượng học sinh tốt nghiệp các cấp học; số người tốt nghiệp giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học có kỹ năng nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu xã hội, có khả năng nghiên cứu….

Chi phí cung cấp các đầu ra trong ngành giáo dục bao gồm các chi phí về con người trực tiếp; chi phí khấu hao tài sản cố định phục vụ chuyên môn; chi phí nguyên nhiên vật liệu phục vụ cho hoạt động giáo dục, đào tạo; các khoản chi phí gián tiếp khác (chi phí chung).

Để đảm bảo các chỉ tiêu về đầu ra như số học sinh đến trường, số học sinh tốt nghiệp…, ngành giáo dục đã tiêu tốn bao nhiêu chi phí. Liệu cách chi tiêu đó đã tiết kiệm chưa? Có cách nào tốt hơn để vẫn đạt đầu ra đó với chi phí ít hơn không?

Thứ hai, đánh giá hiệu lực chi NSĐP cho GDCL. 

Bằng cách so sánh đầu ra với các mục tiêu đã đặt ra của ngành để đánh giá xem việc chi tiêu đảm bảo tính hiệu lực không, tức là đơn vị có “làm đúng việc” không. Đánh giá tính hiệu lực cần trả lời câu hỏi: Đầu ra/Hoạt động/Chi tiêu đó có liên quan như thế nào đến việc đạt được mục tiêu đề ra? Hoạt động đề ra có đúng là thứ cần làm để đạt được kết quả mong đợi không?

Đánh giá tính hiệu lực được thực hiện bằng cách phân tích mức độ đạt được các mục tiêu của ngành giáo dục. Chẳng hạn, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi được học mầm non, mẫu giáo; tỷ lệ xóa mù chữ; tỷ lệ phổ cập giáo dục tiểu học, THCS; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT học tiếp lên trình độ đại học, giáo dục nghề nghiệp; tỷ lệ học sinh, sinh viên tốt nghiệp các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học có việc làm…. Cần chỉ ra được kết quả của chi NSĐP cho GDCL thông qua mối quan hệ giữa chi NSĐP cho GDCL với kết quả thực hiện các mục tiêu của ngành giáo dục.

Bên cạnh các chỉ tiêu có thể đo lường đó, việc đánh giá tính hiệu lực trong chi tiêu của ngành giáo dục còn có thể được thực hiện thông qua các việc đánh giá mức độ hài lòng của người học, của phụ huynh và của người sử dụng lao động. Sự tham gia của khu vực doanh nghiệp, các tổ chức dân sự xã hội và cộng đồng ngay từ khâu lập kế hoạch và được nhấn mạnh trong khâu theo dõi, đánh giá chương trình là yếu tố quan trọng để kết quả của ngành giáo dục được đánh giá khách quan và đầy đủ. Đồng thời, cơ chế phản hồi những kết quả đánh giá vào quá trình ra quyết định ngân sách, sự khuyến khích cũng như trừng phạt về khía cạnh tài chính sau khi nhận được các kết quả theo dõi, đánh giá cũng rất quan trọng để quyết định sự thành công của phương thức quản lý ngân sách theo kết quả thực hiện nhiệm vụ.