Rủi ro quốc gia nảy sinh từ môi trường pháp lý ở nước mình

 

Ngoài việc chấp hành luật pháp ở quốc gia sở tại, các nhà quản lý doanh nghiệp còn phải chấp hành luật pháp ở chính nước mình. Chúng ta hãy xem xét các vấn đề dưới đây.

Đặc quyền ngoại giao dùng để chỉ việc áp dụng luật của nước có công ty mẹ đối với cá nhân, tổ chức hoặc hoạt động kinh doanh bên ngoài lãnh thổ đất nước đó. Trong hầu hết các trường hợp thì những điều luật như thế này thường được sử dụng làm chứng cứ để buộc tội những vụ việc vi phạm của cá nhân  hoặc tổ chức đặt tại nước ngoài.

Có rất nhiều ví dụ về sử dụng đặc quyền ngoại giao trong kinh doanh quốc tế. Gần đây, một tòa án tại Pháp đã yêu cầu hãng Yahoo! chặn truy nhập vào các tài liệu liên quan đến Đức quốc xã trên trang web của hãng này tại Pháp, đồng thời gỡ bỏ những thông điệp, hình ảnh ảnh, bài viết có liên quan trên các trang web có thể truy nhập từ Pháp và Hoa Kỳ của hãng này. Liên minh châu Âu cũng đang theo đuổi vụ kiện chống lại tập đoàn Microsoft vì những hành vi được cho là độc quyền trong việc phát triển và bán các phần mềm điều hành hệ thống của hãng này. Độc quyền được đánh giá là hết sức có hại vì chúng gây hạn chế giao dịch thương mại một cách không công bằng.

Các nhà kinh doanh nói chung rất phản đối sử dụng đặc quyền ngoại giao vì chúng có thể làm tăng chi phí giao dịch, chi phí quy định, cũng như làm phức tạp hóa thủ tục kinh doanh, và nguy cơ rủi ro cao.

– Đạo luật chống tham nhũng ở nước ngoài (FCPA): Được chính phủ Hoa Kỳ thông qua vào năm 1977, đạo luật này nghiêm cấm các hành vi hối lộ của các doanh nghiệp cho các cơ quan, tổ chức nước ngoài vì mục đích kinh doanh. Đạo luật FCPA được ban hành khi có tới hơn 400 doanh nghiệp Hoa Kỳ thừa nhận đã đưa hối lộ cho các quan chức chỉnh phủ và chính trị gia nước ngoài. Đạo luật FCPA được củng cố vào năm  1998  với những điều khoản bổ sung về chống tham nhũng đối với các doanh nghiệp và nhà quản lý nước ngoài tiếp tay cho các hành vi tham nhũng khi đang hoạt động kinh doanh trên đất Hoa Kỳ. Đạo luật này cũng đề ra các điều khoản về kế toán doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp tham gia thị trường chứng khoán Hoa Kỳ. Các doanh nghiệp này sẽ phải thiết lập và vận hành một hệ thống kế toán trong đó kiểm soát chặt chẽ và ghi nhận lại mọi khoản thu  chi của doanh nghiệp. Tuy nhiên, khái niệm “hối lộ” chưa thực sự được làm rõ trong đạo luật này. Lấy ví dụ, đạo luật có sự phân biệt giữa hành vi “hối lộ” và việc thực hiện các khoản “tiếp khách”, được cho là hợp pháp nếu không vi phạm vào các điều luật của đất nước đó.

 Hiện nay vẫn còn rất nhiều quốc gia trên thế giới chưa có những bộ luật chống tham nhũng, hối lộ đối với các giao dịch thương mại quốc tế. Một số doanh nghiệp Hoa Kỳ cho rằng đạo luật FCPA ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận của họ, do các doanh nghiệp cạnh tranh ở các nước khác không bị hạn chế bởi những điều luật như thế này. Thêm nữa, FCPA ngày càng áp dụng những chế tài xử phạt mạnh mẽ hơn đối với các doanh nghiệp vi phạm. Các doanh nghiệp có thể sẽ bị phạt đến hai triệu Đô la Hoa Kỳ, còn các cá nhân thì mức phạt lên đến 100,000 đô la Hoa Kỳ và có thể phải chịu án tù.

– Các nguyên tắc chống tẩy chay trong thương mại: các nguyên tắc này của nước sở tại nhằm ngăn chặn việc các công ty tham gia vào hoạt động tẩy chay hoặc hạn chế thương mại giữa các nước với nhau. Theo đạo luật này, các doanh nghiệp không được phép tham gia tẩy chay thương mại trên các khía cạnh như phân biệt chủng tộc, tôn giáo, giới tính, hoặc nguồn gốc quốc gia. Ví dụ, một số nước Ả Rập từ lâu đã thi hành các chính sách tẩy chay đối với Nhà nước Israel do bất đồng chính trị, và yêu cầu các doanh nghiệp nước ngoài muốn hoạt động kinh doanh với các nước Ả Rập cũng phải chấp hành việc tẩy chay này. Tuy nhiên, luật chống tẩy chay thương mại được Quốc hội Hoa Kỳ thông qua vào năm 1977 đã cấm hoàn toàn các doanh nghiệp Hoa Kỳ hoạt động kinh doanh ở Ả Rập tham gia các hình thức tẩy chay thương mại này.

– Các nguyên tắc trong báo cáo và kế toán: Hoạt động kế toán cũng như các tiêu chuẩn trong kế toán có sự khác nhau rất lớn giữa các quốc gia trên thế giới. Những sự khác biệt này có thể gây ra khó khăn cho hoạt động của các doanh nghiệp nhưng đồng thời có thể tạo cơ hội kiếm lợi nhuận. Ví dụ, khi định giá cổ phiếu và chứng khoán, hầu hết các nước đều áp dụng mức giá cả hoặc mức giá trị thị trường thấp hơn, tuy nhiên Bra- xin lại khuyến khích các doanh nghiệp điều chỉnh định giá phù hợp với danh mục đầu tư của mình, do tiền sử lạm phát cao ở nước này. Khi định giá các loại tài sản hữu hình như công cụ hay thiết bị lao động, Canada và Hoa Kỳ sử dụng giá trị gốc của tài sản. Trong khi đó thì phần lớn các quốc gia Hoa Kỳ latinh lại sử dụng giá trị thị trường đã được điều chỉnh theo tỷ lệ lạm phát. Ở Hoa Kỳ, các công ty được phép xóa sổ những tài khoản không thể thu lại được, trong khi điều này là bất hợp pháp ở Pháp, Tây Ban Nha, và Nam Phi. Cũng như vậy, đại đa số các quốc gia đều xếp chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm (R&D) vào tài khoản chi phí sản xuất của doanh nghiệp, nhưng riêng Hàn Quốc và Tây Ban Nha xếp những chi phí này vào tài khoản chi phí ban đầu (vốn). Bỉ, Malaysia, và Italia thì sử dụng cả hai hình thức kết toán trên.

– Tính minh bạch trong báo cáo tài chính: Thời điểm và mức độ minh bạch của báo cáo tài chính doanh nghiệp có sự khác nhau rất lớn giữa các quốc gia trên thế giới. Tính minh bạch để chỉ mức độ các doanh nghiệp công bố các thông tin quan trọng về tình trạng tài chính cũng như hoạt động kế toán doanh nghiệp của mình. Ví dụ, ở Hoa Kỳ, định kỳ 3 tháng 1 lần các công ty có nghĩa vụ báo cáo kết quả tài chính của mình cho các cổ đông và cho Ủy ban Chứng Khoán Hoa Kỳ. Tuy nhiên, tại phần lớn các nước, báo cáo tài chính thường được công bố mỗi năm một lần, hoặc ít hơn, và tính minh bạch của các báo cáo này thường không cao. Tính minh bạch cao của các báo cáo tài chính không chỉ giúp đưa ra các quyết sách chính xác hơn trong kinh doanh mà còn làm tăng niềm tin của người dân đối với các doanh nghiệp.

 Trong một nỗ lực chống nạn tham nhũng trong các doanh nghiệp, Quốc Hội Hoa Kỳ đã thông qua Đạo luật Sarbanes-Oxley 2002 nhằm thAustralia đẩy các doanh nghiệp công khai minh bạch hơn trong các báo cáo kế toán của mình. Bản đạo luật có tính bao quát cao này được thông qua với mục đích ngăn chặn sai phạm trong quản lý và kế toán của các doanh nghiệp. Đạo luật được ban hành vào thời điểm có nhiều vụ xì căng đan về việc phát hiện gian lận trong kế toán của các doanh nghiệp lớn như Enron và World.com. Đạo luật này chỉ rõ rằng các giám đốc điều hành và giám đốc tài chính của các doanh nghiệp sẽ là những người trực tiếp chịu trách nhiệm về tính chính xác của các báo cáo hàng năm cũng như của các dữ liệu tài chính khác. Bên cạnh đó, đối tác làm ăn của các doanh nghiệp Hoa Kỳ, hoặc các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động kinh doanh trên đất Hoa Kỳ, cũng đều phải tuân theo các điều khoản trong Đạo luật này. Một số doanh nghiệp châu Âu như Royal Dutch Shell (của Hà Lan và Anh), Royal Ahold (của Hà Lan), Parmalat (của Ý), và Vivendi (của Pháp) trong những năm gần đây cũng đã bị khởi tố vì những dấu hiệu bất thường trong quản lý và kế toán doanh nghiệp.

Tuy nhiên, một hạn chế lớn của bản cuộc cải tổ Sarbanes-Oxley là chi phí đối thực thi nó – ước đoán sẽ tiêu tốn khoảng hàng chục tỉ đô la cùng với hàng triệu giờ lao động để thay đổi hoặc thiết lập các hệ thống kiểm  soát kế toán nội bộ. Do đó, để tránh những yêu cầu cứng nhắc về tài chính như thế, một số doanh nghiệp châu Âu đã chọn cách giảm đầu tư vào hoạt động kinh doanh ở Hoa Kỳ, và một số thậm chí đã hủy niêm yết trên thị trường chứng khoán Hoa Kỳ. Đồng thời một số chính phủ các nước châu Âu cũng đã kêu gọi cần có những tiêu chuẩn nghiêm ngặt hơn đối với kế toán doanh nghiệp ở châu Âu.

– Các tiêu chuẩn đạo đức và việc thực hiện chúng trong doanh nghiệp: Đạo đức kinh doanh quy định những hành vi hợp với luân thường đạo lý của các doanh nghiệp, hoặc của chính phủ các nước. Các vấn đề đạo đức thường nảy sinh, hoặc trở nên nghiêm trọng hơn, do những thiếu sót trong hệ thống pháp lý. Tham nhũng là một ví dụ cho hành vi vi phạm đạo đức kinh doanh nghiêm trọng. Tham nhũng bao gồm việc tiến hành những hành vi trái pháp luật, trái đạo đức, đặc biệt là hối lộ và gian lận, nhằm đạt được những mục đích thương mại. Hối lộ là biện pháp thường được sử dụng khi các doanh nghiệp muốn gia nhập một thị trường quan trọng, hoặc khi doanh nghiệp cần đạt các mục tiêu kinh doanh khác ở nước ngoài. Trong ví dụ mở đầu chương này, chúng ta có thể thấy nạn tham nhũng tràn lan làm gia tăng  những quan ngại về hệ thống luật pháp đang phát triển của nước Nga. Ở Đức, số tiền hối lộ của các doanh nghiệp trong thời gian xây dựng một nhà máy đốt chất thải lên tới 13 triệu đô la Hoa Kỳ. Dự án thủy điện Yacyreta xây dựng trên biên giới Argentina và Paraguay với sự hỗ trợ của Ngân Hàng Thế Giới hoàn toàn  không đạt được mục tiêu sản xuất năng lượng như kế hoạch ban đầu, và phần lớn khoản chi 1,87 tỉ đô la đã bị sử dụng vào những việc không minh bạch. Hầu như ở bất kỳ đâu cũng xảy ra nạn tham nhũng, tuy nhiên, vấn nạn này đặc biệt phổ biến ở các nước có nền kinh tế đang phát triển.

Một nghiên cứu gần đây cho thấy hơn 30% các công ty đa quốc gia tin rằng tham nhũng là một trong những mối bận tâm lớn nhất của họ trong các quyết định đầu tư vào một quốc gia nào đó. Liên Hợp Quốc ước tính mỗi năm tổng lượng tiền hối lộ vào khoảng 1 nghìn tỷ đô la. Nhằm đẩy lùi nạn tham nhũng trên toàn cầu, chính phủ Hoa Kỳ đã thông qua Đạo luật chống tham nhũng ở nước ngoài (FCPA),đã được đề cập ở phần trên. Thêm vào đó, năm 1996 Phòng Thương mại quốc tế đã ban hành “Quy tắc về phòng chống biển thủ và tham nhũng”, Hoa Kỳ ban hành “Tuyên bố chống tham nhũng và hối lộ trong các giao dịch thương mại quốc tế”. Năm 1998, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã công khai bản thỏa thuận chống hối lộ của mình.Bản Hiệp định đã được ký bởi 30 nước thành viên OECD (đặc biệt, bao gồm cả các nền kinh tế tiên tiến trên thế giới), cùng với một số nước châu Mỹ Latin. Và cuối cùng, các tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc, Ngân Hàng Thế Giới, Quỹ Tiền Tệ Quốc tế, đã vào cuộc và công bố các chương trình hành động nhằm chống lại nạn tham nhũng trên toàn cầu.

Hàng năm, tổ chức Minh bạch Quốc tế (International Transparency – TI) có trụ sở tại Đức tiến hành khảo sát để xếp hạng về tham nhũng ở các nước và đưa ra báo cáo “Chỉ số cảm nhận về tham nhũng”, nhằm đánh giá cảm nhận mức độ tham nhũng trong khu vực công, được tổng hợp trên cơ sở hàng chục cuộc khảo sát ý kiến các chuyên gia và doanh nghiệp. Bảng danh sách năm 2008 bao gồm 180 quốc gia và vùng lãnh thổ. Mức độ cảm nhận về tham nhũng được chấm từ điểm 0 (tham nhũng cao nhất) đến điểm 10 (được coi là “sạch” nhất).

Đứng đầu bảng xếp hạng có ba nước đồng hạng nhất với 9,3 điểm, đó là Đan Mạch, Thụy Điển, và New Zealand. Đứng thứ tư là Singapore với 9,2 điểm.

Ở dưới đáy của bảng xếp hạng là Somalia (1 điểm), Iraq và Myanmar (đồng 1,3 điểm) và Haiti với 1,4 điểm. Nhìn chung tham nhũng có xu hướng tương quan với thực trạng phát triển kinh tế. Các quốc gia có nền kinh tế càng kém phát triển bao nhiêu thì khả năng nạn tham nhũng xảy ra càng cao. Mối tương quan này chỉ ra một nghịch cảnh quan trọng trong phát triển kinh tế – thương mại và đầu tư sẽ làm giảm đói nghèo, trong khi đó các công ty đa quốc gia lại rất hạn chế đầu tư vào hoạt động kinh doanh ở các nước có dấu hiệu tham nhũng cao.

Vấn nạn tham nhũng đe dọa nghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế cũng như ổn định xã hội của một quốc gia, và nhất là nó đặc biệt phổ biến ở các nước thiếu sự minh bạch trong các hoạt động kinh tế xã hội. Nạn tham nhũng tác động sâu sắc tới những người cùng khổ trong xã hội, khi mà họ buộc phải trả các khoản tiền hối lộ để có được những loại hàng hóa và dịch vụ khác nhau như điện, nước, dịch vụ viễn thông. Mức độ tham nhũng cao cũng tỷ lệ thuận với lượng vốn FDI đổ vào thấp. Nói cách khác, các doanh nghiệp có xu hướng không đầu tư vào các nước có tỷ lệ tham nhũng cao. Tham nhũng cũng chiếm tỷ lệ rất cao trong các dự án xây dựng gần đây ở Iraq và Afganistan, và ở các quốc gia bị tàn phá bởi nạn sóng thần ở Ấn Độ Dương. Khoảng 10% trong khoản ngân sách 4 chục tỷ đô la hàng năm dành cho thủ tục xây dựng đã bị lãng phí vào hối lộ và tham nhũng.

Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng nạn tham nhũng có xu hướng ít nghiêm trọng hơn ở các quốc gia toàn cầu hóa sâu sắc, cũng có nghĩa là có hệ thống thông tin và kế toán minh bạch hơn, thực thi các bộ luật chống tham nhũng nghiêm túc hơn, và có sự cam kết của chính phủ đối với việc chống các hành vi vi phạm đạo đức trong thương