Rủi ro xuất phát từ hệ thống pháp luật là gì?

 

Bên cạnh chế độ chính trị, những khác biệt trong hệ thống luật pháp ở các quốc gia khác nhau cũng là một nguyên nhân tạo nên rủi ro quốc gia. Đặc biệt liên quan đến kinh doanh quốc tế là luật thương mại và tư pháp, trong đó luật thương mại bảo trùm toàn bộ các giao dịch thương mại, còn Tư pháp điều tiết mối quan hệ giữa các cá nhân và các tổ chức, bao gồm các điều luật hợp đồng cũng như trách nhiệm và bổn phận của mỗi bên  nảy sinh trong những trường hợp vi phạm. Ở nhiều nước trên thế giới, hệ thống luật pháp thiên về bảo vệ quyền lợi của các cá nhân, các tổ chức bản địa. Các bộ luật thường được xây dựng nhằm khuyến khích hoạt động kinh doanh và thúc đẩy kinh tế ở địa phương.

Hệ thống luật pháp ở cả “nước chủ nhà” và “nước ngoài” đều tạo nên những khó khăn thử thách khác nhau đối với các doanh nghiệp.

Rủi ro quốc gia nảy sinh từ môi trường pháp lý ở nước ngoài

Chính phủ của nước chủ nhà có thể áp đặt rất nhiều quy tắc luật pháp đối với doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động kinh doanh tại nước mình.

- Pháp luật đầu tư nước ngoài. Những bộ luật này có ảnh hưởng lớn đối với chiến lược gia nhập thị trường của một doanh nghiệp, cũng như đối với cơ cấu và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó. Rất nhiều quốc gia đã đặt ra những giới hạn đối với việc đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào nước mình. Một ví dụ là bộ luật Daitenhoo của Nhật Bản về hệ thống cửa hàng bán lẻ quy mô lớn, bộ luật này không cho phép các doanh  nghiệp nước ngoài mở những cửa hàng bán lẻ quy mô lớn có dạng một kho hàng như Wal-Mart hoặc Toys “Я” Us. Như vậy, bộ luật này đã bảo vệ các cơ sở bán lẻ nhỏ bằng cách hạn chế sự hình thành và hoạt động của các nhà phân phối khổng lồ. Do đó, khi các nhà bán lẻ quy mô lớn muốn hoạt động kinh doanh, họ phải xin được sự chấp thuận của những cửa hàng bán lẻ nhỏ ở trong nước, vốn là một quá trình tốn nhiều công sức và thời gian. Ở Malaysia, các doanh nghiệp muốn đầu tư vào hoạt động kinh doanh ở nước này phải được sự cho phép của Cơ quan Phát triển Công nghiệp Malaysia – một bộ phận có nhiệm vụ rà soát hoạt động đầu tư dự kiến để đảm bảo chúng phù hợp với mục tiêu của các chính sách quốc gia. Đối với Hoa Kỳ thì nước này thường hạn chế những khoản đầu tư nước ngoài được xem là có nguy cơ ảnh hưởng tới an ninh quốc gia. Các khoản đầu tư lớn thường được Hội đồng Đầu tư Hoa Kỳ xem xét rất kỹ. Năm 2006, Quốc Hội Hoa Kỳ Hoa Kỳ đã phản đối gay gắt một đề nghị cấp quyền kiểm soát hoạt động một số cảng ở Hoa Kỳ cho doanh nghiệp Dubai Ports World, một công ty đặt tại Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất. Sự phản đối mạnh mẽ của dân chúng cũng như Quốc Hội Hoa Kỳ khiến cho doanh nghiệp này cuối cùng đã phải chấm dứt các kế hoạch đầu tư ra nước ngoài của mình.

 - Kiểm soát cơ cấu tổ chức và hoạt động kinh doanh. Chính phủ các nước thường ban hành các bộ luật cũng như nguyên tắc mà dựa trên đó các doanh nghiệp điều tiết các hoạt động sản xuất, quảng bá, và phân phối của mình trong phạm vi lãnh thổ nước đó. Những hạn chế này có thể làm tạo những rườm rà cho các doanh  nghiệp, hoặc làm giảm mức độ hiệu quả của hoạt động kinh doanh, hoặc có thể là cả hai khả năng trên. Ví dụ, nước chủ nhà có thể yêu cầu doanh nghiệp phải có giấy phép nhập khẩu hoặc xuất khẩu, hoặc đặt ra những nguyên tắc làm phức tạp hóa việc vận chuyển cũng như các hoạt động giao nhận vận tải khác, hoặc có thể làm cho việc gia nhập thị trường trở nên khó khăn hơn. Một ví dụ là về thị trường dịch vụ viễn thông khổng lồ của Trung Quốc, Chính phủ nước này yêu cầu các nhà đầu tư nước ngoài muốn tham gia thị trường phải liên doanh với các doanh nghiệp trong nước, còn doanh nghiệp nước ngoài không thể làm chủ toàn bộ hoạt động kinh doanh. Luật này nhằm đảm bảo rằng người Trung Quốc luôn nắm quyền kiểm soát ngành công nghiệp viễn thông của mình, cũng như thu được nguồn chất xám, vốn, và công nghệ về cho thị trường nội địa.

- Quy định về Marketing và phân phối. Các bộ luật này chỉ rõ hoạt động quảng cáo, khuyến mãi, phân phối như thế nào là hợp pháp. Ví dụ, chính phủ các nước Phần Lan, Pháp, Nauy và New Zealand cấm quảng cáo  thuốc lá trên TV. Chính phủ Đức cấm phần lớn các quảng cáo dùng hình thức so sánh, kiểu như một doanh nghiệp quảng cáo rằng nhãn hiệu của họ là vượt trội hẳn so với một nhãn hiệu cạnh tranh khác. Nhiều quốc gia khác lại kiểm soát việc áp giá đối với một số hàng hóa và dịch vụ thiết yếu như thực phẩm và dịch vụ y tế. Những giới hạn và kiểm soát này ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động quảng bá và lợi nhuận của các công ty. Các bộ luật về đảm bảo độ an toàn và tin cậy của các sản phẩm chỉ rõ trách nhiệm của nhà sản xuất cũng như người bán đối với những thiệt hại, tai nạn, hoặc tử vong do sản phẩm bị lỗi gây ra. Trong trường hợp có vi phạm, doanh nghiệp và các nhà điều hành doanh nghiệp sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, có thể là phạt tiền hoặc vào tù, tùy theo vụ kiện dân sự. Trái với các nước có nền kinh tế tiên tiến, ở các nước đang phát triển, các bộ luật về đảm bảo an toàn sản phẩm nói chung còn rất yếu, chưa được chú trọng đúng mức. Rất nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng những chỗ yếu của luật như thế để kiếm lời trong hoạt động kinh doanh. Ví dụ, khi một số công ty sản xuất thuốc lá ở châu Âu và Hoa Kỳ bị các vụ kiện theo đuổi, các công ty này đã chuyển phần lớn hoạt động quảng bá của mình sang các nước đang phát triển.

- Quy định về chuyển lợi nhuận về nước mẹ. Các doanh nghiệp đa quốc gia có thể kiếm lợi nhuận ở rất nhiều nước khác nhau trên thế giới, và sau đó chắc chắn họ sẽ tìm cách chuyển những khoản lợi nhuận đó về nước mình. Tuy vậy, ở một số nước, Chính phủ đặt ra các bộ luật hạn chế việc lưu chuyển dòng tiền như thế. Hành động này là nhằm bảo tồn những ngoại tệ mạnh trong nội địa, như đồng Euro, đô la Hoa Kỳ, hoặc đồng Yên Nhật. Những bộ luật này giới hạn lượng tiền ở dạng thu nhập tĩnh, hoặc cổ tức, được các doanh nghiệp gửi về công ty mẹ ở nước mình. Trong khi những nguyên tắc hạn chế này làm giảm lượng vốn FDI đổ vào trong nước, chúng rất phổ biến ở các nước chịu cảnh thiếu hụt ngoại tệ mạnh.

 - Quy định về bảo vệ môi trường. Chính phủ các nước thường ban hành các bộ luật nhằm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, chống nạn ô nhiễm, chống lợi dụng tài nguyên không khí, đất, nước, cũng như nhằm đảm bảo sực khỏe và an toàn. Ví dụ như ở nước Đức, các doanh nghiệp luôn phải theo các nguyên tắc tái chế hết  sức nghiêm ngặt. Trách nhiệm về việc tái chế bao bì sản phẩm hoàn toàn đặt lên vai các nhà sản xuất và phân  phối. Tuy nhiên, các nhà làm luật cũng rất cố gắng cân bằng giữa một bên là trách nhiệm bảo vệ môi trường, và một bên là tác động của các nguyên tắc đó đối với nhân công, hoạt động kinh doanh, và sự phát triển kinh tế. Ví dụ, ở Mexico, các tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường khá lỏng lẻo, hoặc ít bị kiểm soát hơn các quốc gia khác, những chính phủ nước này rất chần chừ trong việc củng cố các tiêu chuẩn đó vì sợ rằng các công ty đa quốc gia nước ngoài sẽ vì thế mà giảm lượng đầu tư vào nước này.

- Pháp luật hợp đồng. Các bản hợp đồng giao dịch quốc tế chỉ rõ những quyền hạn, nhiệm vụ, cũng như nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng. Các bản hợp đồng được sử dụng trong 5 loại giao dịch kinh doanh sau đây: (1) giao dịch bán hàng hóa hoặc dịch vụ, đặc biệt là với số lượng lớn, (2) giao dịch phân phối sản phẩm của một công ty cho các nhà phân phối nước ngoài, (3) giao dịch cấp phép (licensing) và nhượng quyền thương mại (franchising) – là một thỏa thuận trong đó cho phép một doanh nghiệp sử dụng quyền sở hữu trí tuệ, các công cụ quảng bá, hoặc tài sản của một doanh nghiệp khác, (4) giao dịch đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI, đặc biệt là đầu tư dưới dạng hợp tác với một chủ thể nước ngoài, nhằm thiết lập và tiến hành hoạt động kinh doanh của một công ty con, và (5) giao dịch liên doanh, hoặc các hình thức liên kết hoạt động xuyên biên giới khác.

Hiện nay các nhà làm luật đang tiến tới xây dựng một hệ thống tiêu chuẩn quốc tế về các hợp đồng mua bán quốc tế. Vào năm 1980, Liên Hợp Quốc đã ban hành Công ước về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế (CISG 1980) – một văn bản pháp quy thống nhất về các hợp đồng mua bán quốc tế. Hơn 70 quốc gia trên thế giới hiện nay đã tham gia Công ước này, chiếm khoảng ¾ hoạt động thương mại toàn thế giới. Trừ trường hợp bị loại trừ bởi một điều khoản được chỉ rõ trong hợp đồng, bản Công ước được xem là sẽ thay thế cho bất kỳ một bộ luật địa phương nào tương đương về giao dịch mua bán quốc tế.

- Pháp luật về Internet và thương mại điện tử. Những quy tắc này giờ đây cũng được xem là những hạn chế mới trong hệ thống pháp luật. Do sự mới mẻ về hình thức giao dịch này nên luật pháp về Internet và thương mại điện tử vẫn đang được phát triển và hoàn thiện. Các doanh nghiệp hoạt động thương mại điện tử ở các quốc gia có hệ thống luật pháp yếu có thể sẽ phải đối mặt với rủi ro rất lớn. Ví dụ, Chính phủ Trung Quốc đã và đang xây dựng một hệ thống pháp  quy nhằm đảm bảo tính bảo mật và quyền riêng tư trong bối cảnh Internet và thương mại điện tử đang nhanh chóng lan rộng. Tuy vậy, rất nhiều quy định về bảo vệ quyền riêng tư của khách hàng vẫn chưa được thực hiện, và vẫn chưa có tiến triển gì nhiều trong việc phát triển các phương thức bảo về dữ liệu cá nhân trước nạn ăn cắp của bọn tội phạm công nghệ cao và của các dối thủ cạnh tranh. Gần đây, với việc xây dựng luật chữ ký điện tử, hình thức hợp đồng trực tuyến đã được áp dụng các biện pháp bảo vệ khá hữu hiệu. Tuy nhiên, việc thực thi các luật về thương mại điện tử ở Trung Quốc vẫn còn rất lỏng lẻo.

 


Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trên:
  • rui ro trong moi truong phap luat
  • ,