Sơ lược lịch sử phát triển tỷ giá hối đoái ở Việt Nam

 

Qua trình phát triển của tỷ giá hối đoái ở Việt Nam gắn liền với quá trình cải cách hệ thống ngân hàng và đổi mới kinh tế của đất nước. Theo Trầm Thị Xuân Hương (2006), có thể chia qua trình phát triển của tỷ giá hối đoái Việt Nam thành hai giai đoạn lớn: giai đoạn trước pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 và giai đoạn sau pháp lệnh, tức là sau 1990, trong đó xem xét hai thời điểm trước và sau khủng hoảng tài chính năm 1997.

1.   Giai đoạn trước Pháp lệnh Ngân hàng ra đời 1990:

Theo Pháp lệnh ngân hàng, đơn vị tiền tệ nước ta là đồng, ký hiệu quốc tế là VND. Do Việt Nam không công bố hàm lưiợng vàng trong VND do vậy tỷ giá phải được xác định dựa trên cơ sở so sánh sức mua giữ VND và tiền tệ các nước khác. Trong giai đoạn này tỷ giá hối đoái của Việt Nam là chế độ tỷ giá cố định và đa tỷ giá, vì Nhà nwocs độc quyền về ngoại thương và độc quyền về ngoại hối, ngân hàng là hệ thống một cấp trong điều kiện nền kinh tế kê shoạch hoá tập trung. Tỷ giá cố định là tỷ giá chính thức do Nhà nước công bố và điều chỉnh. Đa tỷ giá thể hiện là trong giai đoạn này tồn tại cùng lúc nhiều tỷ giá khác nhua sử dụng trong các mối quan hệ trao đổi khác nhau. Lúc này có sự phân biệt giữa tỷ giá hối đoái áp dụng với các giao dịch với các nước XHCN. Với đối tượng này, Việt Nam thực hiện thanh toán bù trừ nhiều bên thông qua đồng Rúp chuyển nhượng. Cho đến năm 1991, khối XHCN tan vỡ, đồng Rúp chuyển nhượng không tồn tại nữa. Đối với tỷ giá hối đoái giữa VND với đồng tiền các nước tư bản chủ nghĩa được xác định căn cứ vào sự biến động của thị trường mà Nhà nwocs công bố, còn trong quan hệ thanh toán vói các nwocs khác thì tỷ giá hình thành trên cơ sở các nghị định thư ký kết giữa hai nước với nhau. Trong quan hệ với ngân sách Nhà nước chỉ sử dụng tỷ giá kết toán nội bộ, điều này gây rất nhiều khó khăn cho việc xác định hiệu quả kinh doanh cảu các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Theo Trầm Thị Xuân Hương (2006), trong giai đoạn này tỷ giá hối đoái ở Việt Nam được ấn định một cách chủ quan, tuỳ tiện, thiếu cơ sở khoa học, chưa gắn liền với cugn và cầu ngoại tệ. Tỷ giá chính thức th ường rất thấp so với tỷ giá trên thị trường.

2.   Giai đoạn sau khi Pháp lệnh Ngân hàng ra đời

Giai đoạn sau khi Pháp lệnh Ngân hàng ra đ ời năm 1990 và trước khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997, là giai đoạn Việt Nam chuyển từ hệ thống ngân hàng một cấp sang hai cấp, từ chế độ độc quyền ngoại hối sang chế độ quản lý thống nhất ngoại hối. Tỷ giá hối đoái trở thành vấn đề quan trọng hàng đầu trong chính sáhc tiền tệ – tài chính quốc gia. Lúc này Nhà nước chủ trương áp dụng một tỷ giá và tỷ giá được xác định trên cơ sở cung cầu ngoại hối trên thị trường. Một sự kiện quan trọng đó là sự ra đời của Thị trường Ngoại tệ liên ngân hàng vào năm 1994. Tuy nhiên hoạt động trên thị trường còn nhiều hạn chế, thủ tục mua bán và thanh toán ngoại tệ còn nhiều khó khăn.

Sau năm 1997, nhà nước chủ trương quản lý tỷ giá theo hướng điều hành linh hoạt trên cơ sở đảm bảo ổn định giá trị VND, do vậy Ngân hàng Nhà nước đã liên tục mở rộng thêm biên độ dao động của tỷ giá chính thức, bám sát cung cầu ngoại tệ trên thị trường tiến đến tự do hoá tỷ giá, nâng cao uy tín của VND trên thị trường tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế của nền kinh tế đất nước.