Sơ lược về quá trình hình thành và lịch sử phát triển của ASEAN

ASEAN(Association of South East Asian Nations)

Tên gọi  Đông Nam Á được người phương Tây sử dụng từ sau chiến tranh thế  giới lần thứ hai. Xét trên phương diện lịch sử – văn hoá thì Đông Nam Á thời cổ đại là một khu vực thống nhất về văn hoá. Cư dân khu vực này từ hàng ngàn năm trước đã cùng chia sẻ với  nhau một nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước và một nền văn hoá xóm làng với sự đan xen giữa văn hoá núi, đồng bằng và biển.

Do vị trí địa lý thuận lợi và giàu có về tài nguyên thiên  nhiên nên khu vực Đông Nam Á đã trở thành nơi hội tụ của nhiều nền văn hoá, đối  tượng chinh phục và nô dịch thuộc địa của ngoại bang. Trước hết, đó là sự xâm nhập của nền văn hoá Trung Hoa, Ấn Độ, Arập và sau này  từ thế kỷ XVII là châu  Âu. Thế nhưng chính nhờ có sự tương đồng và gần gũi về văn hoá , truyền thống ngoại xâm và tinh thần hợp tác bạn bè, các dân tộc Đông Nam Á  không những  bảo vệ được cốt lõi nền văn hoá sở hữu bản địa của mình mà còn có thể tiếp thu có chọn lọc tinh hoa của các nền văn hoá khác. Trên cơ sở đó các dân tộc Đông Nam Á lần lượt dành được độc lập từ ách  nô dịch và thuộc địa của ngoại bang, đặt nền tảng cho sự hợp tác và liên kết khu vực.

Một cột mốc rõ rệt được đánh dấu trong lịch sử Đông Nam Á là  sự kiện thành lập Hiệp hội   các quốc gia Đông Nam Á: ngày8-8-1967 tại Bangkok (thủ đô Thái Lan), tuyên bố Bangkok được ký kết,  tạo dựng nền tảng cho sự ra đời của ASEAN. ASEAN bao gồm 10 nước trong vùng Đông Nam Á là  Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippin, Singapore, Thái Lan, Việt Nam, Lào, Campuchia và  Myanmar. ASEAN hiện nay có dân số hơn 500 triệu người, GDP khoảng gần 600 tỷ USD/năm. Đây cũng là nơi có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, có sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và là nơi  thu hút nhiều nguồn vốn FDI.

Mục tiêu chính  của ASEAN được ghi rõ trong tuyên bố Bangkok là thông qua những nỗ lực  chung trên tinh thần hợp tác, bình đẳng, cùng có lợi nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội, phát triển văn hoá ở mỗi nước, củng cố hào bình, ổn định ở mỗi quốc gia thành viên, khu vực và trên thế giới.

Chương trình hành động của ASEAN gồm có các chương trình lớn về hợp tác kinh  tế, tự do hoá thương mại, dịch vụ và đầu tư trong khu vực đang được thực hiện như xây dựng khu vực thương mại tự do ASEAN(ASEAN Free Trade Area- AFTA), khu vực đầu tư AIA, chương trình hợp tác công nghiệp ASEAN- AICO, hợp tác hải quan ASEAN. Các nước trong khu vực cùng nhau đẩy nhanh hơn tốc độ  thực hiện khu vực mậu dịch tự do  AFTA để thúc đẩy thương mại trong nội bộ khu vực, tăng tính cạnh tranh, thu hút đầu tư nước ngoài. Với ASEAN 6 (Indonesia, Malaysia, Philippin, Singapore, Thái Lan và Brunei) mức giảm thuế nhập khẩu CEPT  từ 0-5%  đạt được vào năm 2002, với Việt Nam vào năm 2006 , còn Lào và Myanmar vào năm 2008. Mức 0% với ASEAN 6 vào năm 2010  con với các thành viên  mới là  2015.

Như vậy với mục tiêu ban đầu là giữ gìn  ổn định và an ninh trong khu vực,  lúc đầu Hiệp hội được xem như là khối mang màu sắc chính trị là chủ yếu , đến nay sự hợp tác giữa các thành viên trong ASEAN ngày càng khăng khít và toàn diện.