So sánh các quy định về hình thức chế tài trong hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng mua bán tài sản

So sánh các quy định về hình thức chế tài trong hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng mua bán tài sản
Đánh giá bài viết

 

Qua việc phân tích các hình thức chế tài của 2 hợp đồng trên, chúng ta có thể rút ra những điểm như sau:

1.    Sự giống nhau

– Ý nghĩa của các hình thức chế tài: nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật hợp đồng.

– Các chế tài trong hai loại hợp đồng có nhiều đặc điểm giống nhau là do đều phát sinh trong quan hệ hợp đồng nên có các đặc điểm chung:

+     Đều là sự gánh chịu hậu quả vật chất bất lợi của bên thực hiện hành vi vi phạm (lợi ích mà các bên hướng tới trong các hợp đồng bao giờ cũng mang tính chất tài sản nên việc vi phạm của bên này sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích vật chất của bên kia) nên cần có sự bù đắp bằng những lợi ích vật chất. Hậu quả bất lợi mà bên vi phạm phải gánh chịu là việc bắt buộc phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ(trong hợp đồng) hoặc phải bồi thường thiệt hại nhằm để thỏa mãn quyền lợi chính đáng của người bị vi phạm, khắc phục những hậu quả vật chất cho bên bị vi phạm.

+    Quy định 4 hình thức chế tài giống nhau: buộc thực hiện hợp đồng, phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại, hủy hợp đồng. Trong đó, hình thức chế tài bồi thường thiệt hại là một chế tài được áp dụng chủ yếu nhất.

–      Căn cứ phát sinh để áp dụng các chế tài về cơ bản đều bao gồm bốn căn cứ: có hành vi vi phạm, có thiệt hại thực tế xảy ra, mối quan hệ nhân quả và lỗi của bên vi phạm. Đặc biệt, “lỗi” trong việc áp dụng các chế tài trong hợp đồng nói chung và trong hai hợp đồng nói riêng đều là lỗi suy đoán: bên thực hiện hành vi vi phạm đương nhiên bị coi là có lỗi nếu không tự chứng minh được là mình không có lỗi (có thể do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị vi phạm…). Đồng thời lỗi cố ý hay vô ý không phải là yếu tố quyết định đến mức độ gánh chịu trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Khi áp dụng chế tài đối với bên vi phạm, bên bị vi phạm cũng như các cơ quan tài phán về nguyên tắc không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của bên vi phạm.

2.    Sự khác nhau

–     Sự khác nhau về mức phạt tối đa của hình thức phạt vi phạm (về bản chất của hình thức phạt vi phạm là giống nhau: đều là một chế tài do vi phạm và được thỏa thuận trong hợp đồng): trong HĐMBTS thì mức phạt do các bên thỏa thuận (Đ422 BLDS) còn trong HĐMBHH thì cũng do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm (Đ301 LTM).

–    Đối với việc giao hàng không đúng số lượng, chủng loại… trong HĐMBTS thì người mua có quyền từ chối hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại còn trong HĐMBHH thì người mua chỉ có quyền từ chối và không giao kết hợp đồng nữa (vì trong HĐMBTS thì phạm vi điều chỉnh rộng hơn, bao gồm cả quyền tài sản và các giấy tờ có giá khác chứ không chỉ đơn thuần là hàng hóa. Do đó, một khi bên bán không thực hiện đúng nghĩa vụ về giao hàng thì ảnh hưởng đến lợi ích của người mua khá lớn).

–     Đối với thời điểm chuyển rủi ro của hàng hóa trong HĐMBHH  thì trong trường hợp khiếu nại bên bán phải chịu trách nhiệm về bất kì khiếm khuyết nào của hàng hóa đã có trước thời điểm chuyển rủi ro cho bên mua, kể cả trường hợp khiếm khuyết đó được phát hiện sau thời điểm chuyển rủi ro. Còn trong HĐMBTS thì thời điểm chuyển rủi ro được tính cho bên bán trước khi thỏa thuận, có nghĩa là quyền sở hữu thuộc về bên kia còn thời điểm chuyển rủi ro của bên mua kể từ khi bên mua nhận quyền sở hữu.

–     Hình thức chế tài của HĐMBHH đa dạng hơn, có thêm các hình thức: tạm ngừng việc thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng và các hình thức khác theo thỏa thuận của các bên. Điều này thể hiện sự mở rộng hơn của Luật Thương mại so với BLDS về các hình thức chế tài. Chế định hợp đồng trong LTM không phải là chế định “xương sống”. Do vậy, việc tăng hàm lượng quy định về các chế tài là cần thiết để thể hiện tính đặc thù của các giao dịch thương mại so với giao dịch dân sự.


Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trên:
  • bảng so sánh các loại chế tài
  • ,