Sự can thiệp vào thị trường quốc tế các sản phẩm nông nghiệp

 

Vấn đề can thiệp vào thị trường quốc tế các sản phẩm nói chung, và các sản phẩm nông nghiệp nói tiêng là vấn đề gây tranh cãi dai dẳng cả về lý luận cũng như thực tế. Có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề can thiệp hay không can thiệp. Có thể xếp những ý kiến đó thành 3 nhóm:

Nhóm 1: Nhiều người cho rằng cần có sự can thiệp ở cấp Chính phủ ở mỗi quốc gia vào quan hệ thương mại quốc tế để bảo vệ lợi ích quốc gia. Theo những người này thì thị trường đã không đem lại lợi ích bình đẳng cho các đối tác, mà thường là quan hệ bất bình đẳng giữa các nước giàu, có thế lực với các nước nghèo. Thương mại giữa những nước giàu với những nước nghèo giống như mối quan hệ giữa “trung tâm” và “ngoại vi”. ở “trung tâm” có nhiều thế lực độc quyền, có thế lực mạnh có thể chi phối thị trường. Do vậy, trên thực tế không có cạnh tranh hoàn hảo giữa “trung tâm” và “ngoại vi”. Thường thì các nông sản nguyên liệu, nông sản sơ chế, cũng như các sản phẩm khai khoáng khác được bán từ ngoại vi vào trung tâm đã bị ép giá so với những hàng hoá công nghiệp mà “ngoại vi” mua của ‘trung tâm”. Vì vậy, Chính phủ các nước “ngoại vi” phải có sự can thiệp vào thương mại quốc tế để bảo vệ lợi ích của quốc gia.

Về phía các nước “trung tâm” không vì có thế lực áp đảo mà không cần đến sự can thiệp của Chính phủ vào thị trường quốc tế. Thực tế là, ở những nước đó, vấn đề bảo vệ lợi ích quốc gia trước các bạn hàng yếu ớt, rõ ràng không phải là vấn đề cấp bách. Nhưng tại những nước đó, Chính phủ vẫn can thiệp vào quan hệ thương mại quốc tế bằng hình thức này hay hình thức khác. Phải chăng sự can thiệp đó là nhằm phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản tài chính, mà lòng tham của các tập đoàn này là không có giới hạn. Các tập đoàn tư bản tài chính đã dùng thể chế – giải pháp mang tính khách quan, để không ngừng gia tăng lợi ích của họ trong quan hệ thương mại quốc tế.

Như vậy là, cả về phía những quốc gia nghèo, lẫn về phía những quốc gia giàu có, Chính phủ đều có lý do để can thiệp vào quan hệ thương mại quốc tế.

Nhóm 2: một số người lại cho rằng, mọi sự can thiệp đều dẫn đến làm méo mó các quan hệ thị trường. Đặc biệt những can thiệp dưới các hình thức thuế quan xuất nhập khẩu sẽ làm giảm lợi thế trong thương mại quốc tế. Hậu quả cuối cùng của những can thiệp vào thị trường là làm cho cả cung lẫn cầu về nông sản trên thị trường quốc tế đều bị giảm sút, lợi ích của xã hội bị suy giảm, khả năng tiêu dùng nông sản của dân cư vì vậy cũng bị giảm sút. Vì vậy, cần đấu tranh xoá bỏ những rào cản sự phát triển của thương mại tự do, xây dựng nền thương mại tự do hoá giữa các quốc gia.

Nhóm 3: là những người nằm giữa hai nhóm trên. Đây là những người chủ trương về lâu dài sẽ đấu tranh hình thành nền thương mại quốc tế tự do, song trước mắt, do nhiều nguyên nhân về kinh tế, chính trị, xã hội, nên vẫn cần có sự can thiệp cần thiết vào quan hệ thương mại quốc tế, trong đó có thương mại các sản phẩm nông nghiệp.

Trong tình hình đó, Chính phủ các nước đang phát triển nên hành động như thế nào? Thực ra, những người theo quan điểm của nhóm 1 và nhóm 2 đều đã xuất phát từ những chỗ đứng biệt lập của thị trường để phát biểu. Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế quốc tế, nếu theo đuổi tư tưởng một cách cực đoan như nhóm 1 là không phù hợp, là đã tự tước đi khả năng phát triển tốt hơn trong tình hình quốc tế hiện nay. Cũng trong tình hình quốc tế hiện nay, nhất là khi mà khả năng kiểm soát của Chính phủ các nước đang phát triển còn bị hạn chế, thì việc theo đuổi quan điểm của nhóm 2 một cách vội vàng sẽ dễ dàng chuốc lấy phần thiệt hại trong quan hệ thương mại quốc tế. Trên thực tế, không có Chính phủ nào hành động không vì lợi ích quốc gia của họ, kể cả những Chính phủ đang thực thi chủ nghĩa bảo hộ, lẫn những Chính phủ chủ trương tự do hoá thương mại quốc tế.