Sự cần thiết chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Do nhận thức cò đơn giản về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, nên chúng ta đã thiết lập thể chế kinh tế kế hoạch và cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp. Mô hình kinh tế và cơ chế đó có những đặc trưng sau:

Thứ nhất, Nhà nước quản lý nền kinh tế mệnh lệnh hành chính là chủ yếu với hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết từ trên xuống dưới. Do đó hoạt động của các doanh nghiệp chủ yếu phảI dựa vào chỉ tiêu pháp lệnh hoặc là quyết định của cơ quan quản lý nhà nước cấp trên, từ phương hướng sản, nguồn vật tư, địa chỉ tiêu thụ sản phẩm, đến việc định giá, sắp xếp bộ máy.

Thứ hai, các cơ quan hành chính kinh tế can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở, nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chấtđối với các quyết định của mình. Những thiệt hại do các quyết định không đúng gây ra thì ngân sách nhà nước phải gánh chịu. Hậu quả do hai điểm nói trên mang lại là cơ quan quản lý nhà nước làm thay chức năng quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Còn các doanh bghiệp vừa bị trói buộc, vì không có quyền tự chủ, vừa ỷ lại vào cấp trên, vì không bị rằng buộc trách nhiệm đối với kết quả sản xuất kinh doanh.

Thứ ba, trong cơ chế cũ quan hệ hàng hoá – tiền tệ bị coi thường, nhà nước quản lý nền kinh tế và kế hoạch hoá bằng chế độ cấp phát và giao nộp sản phẩm, quan hệ hiện vật là chủ yếu, do đó hoạch toán kinh tế chỉ là hình thức. Chế độ bao cấp đựơc thực hiện dưới các hình thức:
– Bao cấp qua giá là hình thức phổ biến và nghiêm trọng nhất. Nhà nước định giá tài sản, thiết bị, vật tư, hàng hoá thấp hơn gía trị của chúng. Với giá thấp như vậy, xem như một phần những thứ đoá được cho không.
– Bao cấp qua chế độ tem phiếu ( tiền lương hiện vật ). Chế độ cung câp tem phiếu với giá thấp đã biến thành một lọi tiền lương hiện vật đã phá vỡ nguyên tắc phân phối theo lao động.
– Bao cấp theo chế độ cấp phát vốn của ngân sách mà không rằng buộc trác nhiệm về vật chất đối với người được cấp vốn đã tạo ra gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

Thứ tư, bộ máy quản lý cồng kềnh qua nhiều trung gian và kém năng động, từ đó sinh ra một đôingũ cán bộ kém nưng lự quản lý, nhưng phong cách thì cửa quyền quan liêu. Mô hình kinh tế chỉ huy, mà điển hình là nền kinh tế kế hoạch hoá, tậ trung, bao cấp…Với những đặc trưng nêu trên có những ưu đặc điểm là tập trung được nguồn lựvào những mục tiêu chủ yếu, nhưng nó lại thủ tiêu cạnh tranh nên kìm hãm sự phát triển của khoa học – kĩ thuật. Mô hình kinh tế đó không có tiêu chẩn khách quan đánh giá hiệu quả hoạt động kinh tế, bởi lẽ giá cả gần như không có quan hệ gì với giá trị hang hoá, cũng như là tương quan cung cầu, nên mọi sự tính toán đều sai lệch, làm mất đị động lực của sự phát triển kinh tế, làm triệt tiêu tính năng động sáng tạo của các đơn vị kinh tế, hình thành cơ chế kìm hãm sự phát triển kinh tế – xã hội. Khi đó chủ yếu phát triển kinh tế theo bề rộng chứ bkhông phải chiều sâu.

Vì vậy, đổi mới tư duy về kinh tế, Đảng ta đã đề ra phương hướng đổi mới kinh tế là chuyển nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường sự quản lý của Nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa.